Lịch sử Việt Nam

Hôn nhân cận huyết hoàng tộc thời nhà Trần

Hôn nhân cận huyết, trực hệ cỡ 3 đời liên tục thời nhà trần chỉ có triều Trần mới có. Đến thời nhà Nguyễn thì thành đại kỵ, con cháu họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất, Tôn Nữ còn chẳng được lấy nhau, dù cách hàng chục đời.
400

Nhiều người cứ nghĩ là Trần Thủ Độ gian hùng, 1 tay gây dựng lên nhà Trần, nhưng không phải thế. Vai trò rất lớn là bà vợ ông, Trần Thị Dung (tên có thể không chính thức), sau được phong là Linh từ quốc mẫu. Bà này được sử sách chính thống ca ngợi hết lời vì có công đánh quân Nguyên.

Bà Dung nguyên là hoàng hậu, vợ vua Lý Huệ Tông, ông này đụt, nên bà Dung mới thông dâm được với EM HỌ MÌNH (con chú ruột) là Trần Thủ Độ. Huệ Tông bị Thủ Độ ép nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh, thành Lý Chiêu Hoàng. Rồi Chiêu Hoàng lại bị ép nhường ngôi cho Trần Cảnh, thành Trần Thái Tông. Hai vua này đều là trẻ trâu, vị thành niên. Huệ Tông sau khi mất ngôi thì xuất gia làm sư, rồi tự tử vì sợ Thủ Độ giết. 

Chiêu Thánh vì chậm có con nên bị phế, gả cho Lê Phụ Trần, 1 vị tướng. Sau đó bà lại có con! Chị ruột bà là Thuận Thiên công chúa, lúc đó và vợ Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh, đang có mang 2 tháng, bị dí làm hoàng hậu thay em. Vì thế nên mới có mối hận giữa Trần Liễu và Trần Cảnh. Liễu cay, đem quân đánh, mà thua nên rắp tâm nuôi dạy con là Quốc Tuấn để mưu làm phản.

Điều đáng nói và ít người để ý là bà Dung chính là mẹ đẻ của cả Thuận Thiên lẫn Chiêu Thánh công chúa. Tức là bà mẹ, đang là hoàng hậu, thì thông dâm với em con chú ruột, sau đó lấy luôn làm chồng và cùng chồng (Thủ Độ) gả bán 2 con gái riêng cho con trai của anh ruột mình (Trần Thừa). Hôn nhân cận huyết Dung – Độ là mở màn cho 1 chuỗi hôn nhân cận huyết sau đó của hoàng tộc nhà Trần. 

Sau đó, con gái Trần Liễu là Thiên Cảm lại lấy con trai Trần Cảnh là Trần Hoảng (Thánh Tông). Tức là chị lấy em họ con chú, đẻ ra Trần Khâm là vua Nhân Tông.

Ngược lại, Trần Quốc Tuấn, là con Trần Liễu, lại lén thông dâm với em con chú ruột (Trần Cảnh – Thái Tông) là công chúa Thiên Thành. Công chúa này đã có kế hoạch gả cho người khác, nên ông Tuấn nhân đêm hôm mới mò tới chịch 1 nhát đánh dấu, thế là lấy được vợ! 

Chưa hết, Thiên Thụy công chúa là con vua Thánh Tông, cũng được gả cho Trần Quốc Nghiễn, là con Quốc Tuấn. Tức là cháu nội Trần Liễu lấy cháu nội Trần Cảnh.

Mình mới soi mấy đời vua và khanh tướng đầu nhà Trần, có công lao to nhất về chống ngoại xâm. Các vua sau thì chả để ý nữa, nhưng chắc vẫn theo truyền thống hôn nhân cận huyết đó.

Ông Tuấn sau được SGK ca ngợi là gác thù nhà để đền nợ nước, chống ngoại xâm, tức là không làm phản. Nhưng mà xét mối quan hệ 2 nhà Thừa – Cảnh lấy nhau lẫn lộn chồng chéo như vậy thì làm phản thế nào nổi?!

Theo khoa học hiện đại thì hôn nhân cận huyết, trực hệ cỡ 3 đời liên tục như thế thì con cháu không thành quái thai là may.

Hôn nhận dạng này chỉ có triều Trần mới có. Đến thời nhà Nguyễn thì thành đại kỵ, con cháu họ Nguyễn Phúc, Tôn Thất, Tôn Nữ còn chẳng được lấy nhau, dù cách hàng chục đời (về luật và khoa học là không sao).

SGK tô hồng nhà Trần, nhưng lẽ ra cũng phải đả động chút đến vấn đề này, vì nó trái đạo lý thời phong kiến cũng như trái khoa học.

Dương Quốc Chính

Văn hóa Việt Nam

Lễ phục Cổn miện thời Lý – Trần

Cổn miện là lễ phục cao quý của hoàng đế Á Đông, chỉ xếp sau Đại cừu miện (ngoại trừ Nhật Bản). Ngoài lễ tế trời, người đứng đầu của một số triều đại trong lịch sử còn sử dụng loại trang phục này trong lễ đăng cơ.
177

Cổn miện được các vị quân chủ Việt Nam sử dụng từ rất sớm. “Đại Việt sử ký toàn thư”, quyển 1, kỷ nhà Đinh có nhắc đến áo cổn như sau: “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế.” (Nguyên văn chữ Hán và phiên âm: 太后見眾心悅服命,以龍衮加桓身請即帝位 – Thái hậu kiến chúng tâm duyệt phục mệnh, dĩ long cổn gia Hoàn thân thỉnh tức đế vị)

Ghi chép về cổn miện thời Lý – Trần trong sử sách tuy không nhiều nhưng vẫn có thể khảo cứu và dựa vào để đưa ra phỏng đoán về kết cấu của bộ lễ phục này, tỷ như trong “Đại Việt sử lược”, quyển 3 có nhắc đến sự kiện Trần Tự Khánh (陳嗣慶) trả lại mũ Bình thiên cho Lý Huệ Tông (李惠宗). “An Nam chí lược” (安南志略) của tác giả Lê Tắc (黎崱) cũng ghi chép về quy chế cổn miện như sau:

“Các chương phủ phất, đại phấn, hoa trùng (hoa văn trên áo cổn)

Tổ thụ: lụa thắt lưng.

Thuỳ bội: dải ngọc đeo ở hông

Phương tâm: tấm phụ tâm vuông đính trước ngực áo.

Khúc lĩnh: cổ áo tràng.

Miện lưu: dải tua đính ở mũ miện, đều hơi giống Trung Quốc.

Quốc chủ có mũ Bình thiên (平天冠), mũ Quyển vân (卷雲冠), mũ Phù dung (芙蓉冠), mặc áo Cổn (袞衣), đeo đai Kim Long, cổ khoác phương tâm khúc lĩnh bằng là trắng thêu bó gấm đính vàng, trân châu, tay cầm ngọc khuê. Phàm tết lễ nhận quần thần lạy mừng.”

Dựa trên bức phù điêu “Ngô gia thị bi” tại chùa Dầu (Hà Nam), kèm theo đó là khảo cứu sử liệu, hiện vật của cả Trung Hoa và Việt Nam, chúng tôi phỏng đoán kết cấu của trang phục cổn miện thời Lý – Trần có nét tương đối giống với trang phục cổn miện thời Đường – Tống.

Phác thảo Cổn miện Lý – Trần dựa trên công trình khảo cứu của đội ngũ Đại Việt Phong Hoa
Phác thảo Cổn miện Lý – Trần dựa trên công trình khảo cứu của đội ngũ Đại Việt Phong Hoa. (Ảnh A Nùng)

Xem thêm: Quy chế triều phục bá quan thời Lê Trung Hưng 1725 – 1789

Các triều đại của Việt Nam ta chủ trương “nội đế ngoại vương”, xưng thần và nhận sắc phong vương của Thiên tử Trung Hoa nhưng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng như trong mối quan hệ bang giao với các vương quốc láng giếng thì vẫn luôn thể hiện vị thế của hoàng đế, bởi vậy quy chế Cổn phục của “Nam đế” cũng sẽ đầy đủ như của quân chủ Trung Quốc, bao gồm mũ miện (còn gọi là mũ Bình Thiên), trên miện bản đính 12 dây lưu, áo cổn có đủ 12 chương (hoa văn) bao gồm: Nhật (日- mặt trời), Nguyệt (月- mặt trăng), Tinh Thìn (星辰- chòm sao), Tảo (藻), Phấn mễ (粉米- gạo trắng), Phủ (黼- rìu), Phất (黻- thể hiện hai mặt tốt-xấu), Long (龍- rồng), Hỏa (火- lửa), Sơn (山-núi), Hoa trùng (華蟲- chim trĩ), Tông di (宗彝- Cặp cốc có hình con hổ và con khỉ, là đồ dùng trong lễ tế xưa) và các phụ kiện như thụ, tế tất, thường, đai, phương tâm khúc lĩnh…

Đại Việt Phong Hoa