Văn hóa thế giới

Người Nhật tổ chức “Lễ tưởng niệm” cho những con dấu (hanko)

Hôm nay, một ngôi đền ở Tokyo, người ta đã tổ chức "lễ tưởng niệm" cho khoảng 50 con dấu (hanko). Đây là những hanko mà các công ty đã loại bỏ sau động thái quyết tâm thúc đẩy mạnh mẽ số hóa hành chính của chính phủ Nhật Bản, và hỗ trợ cho người lao động làm việc từ xa.
95

Vị chủ tế của ngôi đền ở quận Shinjuku đã tụng kinh trên những con dấu truyền thống của công ty và nhân viên, thuộc ba công ty bao gồm Sakura Internet Inc.

Nhật Bản rất thú vị, người ta có văn hóa và phong tục tổ chức “lễ tưởng niệm” cho các công cụ, vật dụng khác nhau đã được sử dụng từ lâu đời, từ kim, kéo, búp bê, và thậm chí cả chó hình người “AIBO”. Hành động này như để thể hiện sự trân trọng của con người đối với các vật dụng đó, đánh giá cao quãng thời gian chúng phục vụ họ, thay vì chỉ đơn giản là loại bỏ chúng.

Việc loại bỏ các con dấu diễn ra khi quá trình số hóa của các công ty được đẩy mạnh trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Quá trình này đang được hỗ trợ bởi chính phủ Nhật Bản và chính quyền các địa phương.

Những con dấu “hanko” không còn được sử dụng quy tụ về một ngôi đền ở Tokyo, nhân vật chính của “lễ tưởng niệm”
Những con dấu “hanko” không còn được sử dụng quy tụ về một ngôi đền ở Tokyo, nhân vật chính của “lễ tưởng niệm”.

Một quan chức của Sakura Internet Inc. cho biết, công ty hiện đã hoàn toàn “không còn sử dụng những con dấu mà họ đã từng sử dụng mỗi khi hợp đồng được ký kết”.

Lễ tưởng niệm này được tổ chức bởi TDM Telework, là một nhóm gồm 23 công ty công nghệ thông tin vừa và nhỏ, chuyên chia sẻ thông tin và kiến ​​thức chuyên môn về số hóa.

“Chúng tôi đang mong đợi nhiều chính sách của chính phủ về số hóa mạnh mẽ hơn nữa. Hy vọng nó sẽ thúc đẩy xã hội rời xa văn hóa sử dụng hanko”, Fumihiro Naganuma, Chủ tịch TDM Telework nói.

Ngay sau khi nhận chức vụ mới, Thủ tướng Yoshihide Suga đã chỉ thị chính phủ của ông lập kế hoạch ngừng sử dụng con dấu trên các văn bản hành chính, một truyền thống bị chỉ trích là lỗi thời. Việc sử dụng nó sẽ dẫn tới việc cần có sự tương tác trực tiếp, thúc đẩy nguy cơ lây lan coronavirus.

Cũng hôm nay, Chánh văn phòng Nội các Katsunobu Kato cho biết, Bộ Tài chính đang xem xét loại bỏ hanko khỏi các thủ tục liên quan đến thuế, “trên quan điểm đóng góp vào sự thuận tiện của người nộp thuế”. Và động thái này sẽ là một phần của cải cách hệ thống thuế hàng năm cho năm tài chính tiếp theo.

Văn hóa thế giới

Phong cách nhà truyền thống độc đáo của người Nhật

Một căn nhà truyền thống của người Nhật trông nó như thế nào nhỉ? Ngày xưa, mình cứ tưởng tượng mãi qua những trang truyện tranh Doraemon. Lúc đó thích lắm, thích vì nó lạ lẫm, chứ còn nhỏ quá thì khó mà biết gì hơn. Cho đến tận sau này, khi sang tới Nhật rồi thì mới ồ lên, hoá ra cũng không khác gì trong truyện cả.
92
Phong cách nhà truyền thống của người Nhật
Phong cách nhà truyền thống của người Nhật

Kể từ thời Minh Trị, ảnh hưởng của kiểu nhà ở của các nước phương Tây đã bắt đầu tạo dấu ấn lên thiết kế nhà của người Nhật. Nhưng phải cho tới sau thế chiến thứ II, mức độ ảnh hưởng mới trở nên sâu sắc và lan rộng. Tuy nhiên, bạn sẽ luôn tìm thấy những phong cách truyền thống được truyền từ cả nghìn năm nay trong những thiết kế mới đó. Có vẻ, chúng sẽ chẳng bao giờ mất đi.

Hãy cởi giày

Những ngôi nhà truyền thống của người Nhật được gói gọn trong hai từ: 民家 (minka). Nó đặc trưng bởi chiếu trải sàn 畳 (tatami), những tấm cửa trượt, hay những hàng hiên bằng gỗ. Không lẫn vào đâu được.

Nhưng bạn có chú ý, một yếu tố nữa khó có thể lẫn đi đâu giữa những ngôi nhà lai Tây kia không? Đó là đoạn sảnh ra vào, người ta gọi là 玄関 (genkan), nơi mọi người trước khi bước vào nhà cởi bỏ dày dép của mình đó.

Ở đoạn này, phần sàn sẽ giật cấp, ta sẽ phải cởi giày trước khi bước vào nhà tại đây. Phần sàn khi bước vào trong được nâng cao lên không phải để bạn ngồi cởi giày đâu, vốn là người ta để cao vậy, tránh ẩm ướt xâm nhập cũng như lúc ngập lụt khi mưa lớn.

Một sảnh vào genkan với getabako (trái) để giày và tataki (tiền cảnh)
Một sảnh vào genkan với getabako (trái) để giày và tataki (tiền cảnh).

Khu vực thấp hơn có cái tên 三和土 (tataki), và theo truyền thống, nó được làm bằng đất. Còn ngày nay, người ta phủ bê tông.

Sau khi cởi, ta sẽ đặt giày vào một tủ giày có tên gọi 下駄箱 (getabako). Tên của chiếc tủ là từ ghép của chữ geta, một loại guốc gỗ mà người Nhật ngày xưa hay sử dụng.

Khi mưa trút xuống, giống như nhiều căn nhà ở Việt Nam, sẽ có một máng xối 雨樋 (amadoi) để dẫn nước mưa thoát từ mái. Nhưng đoạn này mới hay này, nước lại chảy xuống một đường dẫn có tên 鎖樋 (kusaridoi). Rất ngộ, tuy có công dụng để chảy nước, nhưng đồng thời, nó cũng là một vật dùng để trang trí luôn, người ta còn gọi là “chuỗi mưa”.

Nước mưa đi dọc theo rãnh nước và xuống chuỗi mưa kusaridoi
Nước mưa đi dọc theo rãnh nước và xuống chuỗi mưa kusaridoi.

Fusuma và Shōji

Một đặc trưng khác về nhà truyền thống của người Nhật, đó là các vách ngăn, cửa kéo. Chúng được làm từ một loại giấy gọi là 和紙 (washi) của Nhật.

Không rõ là các thiết kế cửa trượt hiện đại có phải là lấy ý tưởng từ cửa trượt này của Nhật không nữa, chỉ biết là nó đã có từ hàng trăm năm nay. Tuy rãnh trượt là trực tiếp các tấm cửa đè lên rãnh để kéo qua lại, nhưng nó rất trơn và êm, và hoàn toàn không cần đến bánh xe gì hết. Những tấm vách này ta không chỉ gặp được ở nhà dân, mà kể cả các khách sạn họ cũng dùng luôn.

Có hai kiểu thiết kế vách ngăn và cửa khác nhau với các cái tên 襖 (fusuma) và 障子 (shōji).

Fusuma sử dụng loại giấy nặng hơn, đôi khi lại làm bằng vải và mờ đục. Không giống như các bức tường xây kiên cố, fusuma có thể dễ dàng được tháo rời để sắp xếp lại không gian trong nhà.

Vách fusuma
Vách fusuma.

Shōji nhẹ hơn fusuma, với giấy được dán vào các khung gỗ. Thêm nữa, chúng ta có thể nhìn xuyên qua tấm vách này theo kiểu mờ ảo thôi, và vừa đủ cho ánh nắng tràn vào làm sáng lên căn phòng. Loại giấy sử dụng cho shōji xốp nên cũng giúp lưu thông không khí và giảm độ ẩm. Trong những ngôi nhà kiểu Nhật hiện đại, chúng thường được đặt ở những cánh cửa giữa những ô kính. Với một biến thể, được gọi là 雪見障子(yukimi shōji) nghĩa là “cửa ngắm tuyết”, bạn có thể trượt phần dưới lên và nhìn ra ngoài qua kính.

Vách shōji
Vách shōji
Với yukimi shōji, có thể nâng phần dưới lên và nhìn ra cửa sổ
Với yukimi shōji, có thể nâng phần dưới lên và nhìn ra cửa sổ.

Tatami

Rồi, giờ tới cái mà ai cũng biết là cái gì đó. Sàn chiếu 畳 (tatami).

Lần đầu tiên mình đi thuê nhà để ở bên đó, tatami chính là thứ mình phải học đầu tiên. Người Nhật không dùng đơn vị đó mét vuông để quảng cáo cho thuê, họ dùng đơn vị tatami luôn (*). Đại khái kiểu “căn nhà này rộng mấy chiếu”, thế đó.

Tatami
Tatami

Các chiếu tatamin sử dụng nguyên liệu từ cói mà dệt thành, một thứ chắc chắn không bao giờ thiếu trong các căn nhà truyền thống của người Nhật. Lúc mới làm nhà xong, mùi thơm từ những chiếc chiếu tatami luôn thoang thoảng khắp phòng. Chỉ cho đến khi dùng đã quá lâu rồi, mùi chiếu mới bắt đầu tan bớt đi.

Có lẽ chỉ khi bước chân lên hay nằm nghỉ trên những chiếc chiếu này, bạn mới cảm nhận được độ êm và sự dễ chịu của chúng. Không rõ vô tình hay cố ý, nhưng một tấm chiếu này có thể hút tới 500ml hơi ẩm trong không khí, và khi trời ấm nóng lên, mọi thứ sẽ bốc hơi. Nhưng cũng đừng sợ mốc nhé, mình chưa thấy điều đó bao giờ. Thêm nữa, nó còn hấp thụ luôn cả thứ khí độc nitơ đioxit, giúp làm sạch không gian trong phòng. Thật tinh tế.

Tokonoma

床の間 (Tokonoma) là một khoảng trống giữa tường, chủ yếu là để trang trí. Nó sẽ cao hơn mặt sàn một chút, khoảng 10cm gì đó. Thường mình hay thấy người ta treo tranh, là những bức tranh phong cách cổ, không phải tranh hiện đại đâu. Phía mặt sàn của nó, họ sẽ đặt một mảnh gốm, hay lư hương kōro, và cũng có thể là một lọ cắm hoa ikebana.

Tokonoma
Tokonoma

Ngay cả khi thiết kế các phòng washitsu truyền thống ít đi, người ta vẫn thường trải chiếu tatami ở một phần của căn phòng kiểu phương Tây để ngủ, dựng shōji thay vì rèm, và tắt đèn bằng chao đèn washi.

Phòng tắm

Trong các ngôi nhà truyền thống của người Nhật, nhà vệ sinh và phòng tắm được ngăn cách. Phòng tắm bao gồm một khu vực để rửa và một bồn tắm để ngâm mình. Ngoài ra còn có một phòng nhỏ liền kề để thay quần áo và cởi quần áo.

Các gia đình Nhật Bản thường sử dụng cùng một loại nước tắm, cẩn thận tắm sạch và rửa sạch xà phòng trước khi vào, và bồn tắm không được xả cho đến khi mọi người đã tắm xong.

Bồn tắm truyền thống bằng gỗ
Bồn tắm truyền thống bằng gỗ.

Nhà vệ sinh ngồi xổm từng là tiêu chuẩn trong các ngôi nhà Nhật Bản, người ta gọi là kiểu waseki. Nhưng ngày nay, chúng đã được thay thế bằng các thiết bị công nghệ cao với ghế sưởi và các tính năng khác.

Ngủ kiểu truyền thống

Giờ thì người ta ngủ trên giường nhiều rồi, nhưng kiểu nằm đệm (futon) truyền thống ngay dưới sàn vẫn được ưa chuộng. Một cuộc khảo sát năm 2013 của Nifty cho thấy 50% người được hỏi ngủ trên futon trải trên chiếu tatami.

Khi ngủ dậy, người ta gập futon lại, cất luôn vào tủ, tạo thêm không gian cho các phòng. Và họ cũng rất thường xuyên đem futon ra phơi nắng, giúp chúng mềm mại và thoải mái khi ngủ.

Có người nói rằng, những ngôi nhà ở Nhật Bản được xây dựng để cho những làn gió đi qua và làm mát cho người dân trong cái nóng ngột ngạt của mùa hè. Ngược lại, điều này khiến mùa đông trở nên lạnh lẽo, khó chịu ngay cả khi ở trong nhà.

Chăn ga gối đệm (futon)
Chăn ga gối đệm (futon).

Ngày nay, một số ngôi nhà truyền thống đã được tân trang lại để nó có thêm các tiện nghi hiện đại. Nhưng có nhiều căn lại được chuyển đổi thành nhà nghỉ ryokan hoặc minshuku. Đối với nhiều khách nước ngoài tới du lịch Nhật Bản, lưu trú trong một chỗ ở truyền thống là một cách tốt để trải nghiệm những nét quyến rũ trong văn hoá Nhật Bản.

Một căn phòng kiểu Nhật Bản với cửa trượt fusuma, cửa sổ kiểu shōji, sàn trải tatami và một tokonoma phía xa.
Một căn phòng kiểu Nhật Bản với cửa trượt fusuma, cửa sổ kiểu shōji, sàn trải tatami và một tokonoma phía xa.

*Một tấm chiếu tatami truyền thống có kích thước là 6 shaku x 3 shaku, sử dụng đơn vị đo của Nhật Bản, tạo ra kích thước 1.653m2. Nhưng có rất nhiều kích thước tatami khác nhau được sử dụng trên khắp Nhật Bản. Danchima tatami được sử dụng trong các đơn vị nhà ở danchi, được xây dựng vào thời hậu chiến (1.445 m2). Hay kyōma thường thấy trong các ngôi nhà cũ ở phía tây Nhật Bản, có kích thước1.824 m2. Hội đồng Thương mại Công bằng Bất động sản của Nhật Bản định nghĩa 1 jō là “ít nhất 1,62 m2” hoặc 90 cm × 180 cm, cho mục đích đo kích thước các phòng.

Thế giới ngày nay

3 thực tập sinh Việt Nam đã thắng kiện công ty Nhật vì bị lừa đi khử phóng xạ

Công ty Nhật Bản phải bồi thường 1,7 triệu yên cho 3 cựu thực tập sinh Việt Nam từng bị công ty này lừa đi khử phóng xạ ở Fukushima vào 9/2019.
95

Vào tháng 9/2019 Ba lao động Việt Nam đến Nhật Bản theo chương trình thực tập sinh nước ngoài đã kiện một công ty xây dựng vì ép họ dọn rác nhiễm phóng xạ ở Fukushima mà không được giải thích trước về công việc này.

Đơn kiện đã được nộp lên Tòa án Fukushima, yêu cầu công ty Hiwada, trụ sở tại thành phố Koriyama thuộc tỉnh Fukushima, phải bồi thường tổng cộng khoảng 12,3 triệu yên (2,7 tỉ đồng).

Các lao động Việt Nam, đến Nhật hồi tháng 7.2015, cũng thi công lắp đặt đường ống tại thị trấn Namie vào thời điểm lệnh di tản vẫn được áp dụng tại đây.Theo hợp đồng, công việc của họ chỉ đặt cốt thép vào vị trí và làm ván khuôn để đổ bê tông.

Thế nhưng, Hiwada không giải thích rõ ràng về công việc dọn rác nhiễm phóng xạ, cũng như không cung cấp sự đào tạo bài bản cho người lao động.

Chúng tôi không được thông báo rằng đây là công việc nguy hiểm. Tôi rất lo lắng về sức khỏe của mình trong tương lai.

– Thực tập sinh Việt Nam

Đến hôm nay sau gần 1 năm, ngày 29/10/2020 toàn án quận Fukushima đã tuyên bố thắng kiện cho ba thực tập sinh Việt Nam. Buộc công ty chi nhánh công ty Hiwada ở thành phố Koriyama tỉnh Fukushima bồi thường thiệt hại cho các thực tập sinh Việt Nam. Tuy thắng kiện nhưng con số khá là ít ỏi chỉ 1,7 triệu yên (350 triệu VND) so với con số đề nghị 12,3 triệu yên (2,7 tỷ VND).

Theo Yahoo Jp

Lịch sử thế giới

Sơ lược tình hình Nhật Bản trước cải cách

Bài viết này về tình hình Nhật Bản trước cải cách dựa trên sách Lịch sử thế giới trung, cận đại và góc nhìn cá nhân của tác giả, mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử cùng thảo luận nhé.
121

1. Nông nghiệp

Thời mạc phủ Tokukawa là 1 giai đoạn ổn định chung lâu dài của Nhật, kéo dài suốt 250 năm 1603-1867 giúp Nhật Bản có điều kiện phát triển kinh tế toàn diện, nhất là nông nghiệp – không phải lo chiến tranh bên ngoài, lực lượng, tư liệu sản xuất ít xáo trộn.
Dù diện tích đồng bằng thấp- chỉ 15% canh tác được nhưng khí hậu ôn đới có đặc điểm hải dương ( ẩm hơn, đỡ khắc nghiệt hơn khí hậu lục địa).

Lúa cấy được 3 vụ, ngoài ra có thể luân canh nhiều loại cây nông cũng như công nghiệp khác. Đặc biệt những cây công nghiệp như múa, đường, thuốc lá, chàm, sơn, dâu tằm có sự chuyên cạnh địa phương rõ nét – kiểu như bây giờ là quy hoạch vậy.
Diện tích những cây phục vụ công nghiệp và thị trường tăng nhanh như bông, dâu, chè,… Nửa đầu tk 19, diện tích những cây này ở những trung tâm như Osaka, Kyoto đã vượt lúa gạo

Sản lượng lương thực tăng lên rõ nét dù diện tích đất hầu như ít thay đổi (Nhật vẫn giữ diện tích 300.000 km2 hơn ngàn năm rồi) – năm 1598 sản lượng là 1850 vạn thạch đến năm 1789-1837 đạt 3042 vạn thạch. Thạch hay koku là đơn vị đo thể tích khoảng 180 lít , là lượng gạo nuôi đủ 1 người trong 1 năm. Như thế đến những năm cuối thế kỷ 18, đầu 19, Nhật đủ nuôi 30 triệu dân theo lý thuyết.

Tuy thế, sang giữa thế kỷ 19, chế độ phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến rơi vào bế tắc, suy thoái kéo theo nông nghiệp có 1 số thoái trào nhất định. Đất bị cấm mua bán nhưng thực tế diễn ra gán đất quy mô lớn. Mất mùa, đói kém diễn ra. Trong 50 năm từ 1790-1840, diễn ra 22 lần mất mùa, nạn đói diễn ra hầu khắp cả nước.

2. Thủ công nghiệp và tiền công nghiệp

Thủ công nghiệp thời Edo rất phát triển trong đó tơ sống, lụa, vải,… là quan trọng nhất . Chúng vừa đáp ứng nhu cầu trong nước lại còn được bán ra nước ngoài.

Đầu thế kỷ 19, Nhật đã ở vào thười kì tiền tư bản chủ nghĩa. Có rất nhiều công trường thủ công khai thác vàng, bạc, sản xuất tơ lụa, gấm, giấy,… Có khoảng 400 công trường thủ công có trên 10 công nhân.

Cảnh các phiên cống mạc phủ ở Edo
Cảnh các phiên cống mạc phủ ở Edo

Sự phát triển thủ công, tiền công nghiệp đó còn nhờ sự phát triển thành thị của Nhật cùng sự gia tăng thị dân. Do quan hệ phong kiến tan rã, hàng vạn cư dân đổ vào thành thị kiếm việc làm. Những thành phố như Edo, Kyoto, Osaka vào đầu tk 18 đã có hàng chục vạn cư dân, Edo có gần 60 vạn, Osaka có khoảng 30 vạn.

Cảnh phố xá thời Edo
Cảnh phố xá thời Edo

Do đặc điểm nền sản xuất kinh doanh, công trường thủ công khá phân tán, nông dân nhận nguyên liệu từ chủ rồi làm tại nhà, sau đó nộp cho chủ, thực tế còn lĩnh lương từ các nhà buôn.

Sự tiêu thụ vải nhiều cho phép xuất hiện nhiều thủ công dệt nửa đầu tk 18. Ở công quốc Satsuma có nhiều xí nghiệp sản xuất tơ lụa thuê từ 20 đến 30 công nhân. Vào nửa sau thế kỷ 18, có đến 100 công trường thủ công sản xuất lụa, vải do phong kiến tổ chức quản lý, Ở Tokyo năm 1850 có công trường có 10-20 máy dệt.

Trong những năm 50-60 xuất hiện công nghiệp luyện thép và các công xưởng đóng tàu ở các công quốc Tây Nam.

Tuy thế công nghệp NB phát triển có nhiều khí khăn do sự biệt lập của các công quốc, chính sách quản lý chặt chẽ nông dân. Đến giữa thế kỷ 19, số công trường thủ công lên đến hàng trăm nhưng công nghiệp chế tạo chưa ra đời. Tỷ lệ sản phẩm công nghiệp Nhật so với thế giới còn thấp. Năm 1867, tỷ lệ này với ngành đúc đồng là 6%, tơ là 10% – thế này mà sách kêu thấp.

Một automaton - máy tự động- thời Edo, thể hiện sự học hỏi kỹ thuật của NB. Máy là người nộm có thể lấy tên, giương cung bắn
Một automaton – máy tự động- thời Edo, thể hiện sự học hỏi kỹ thuật của NB. Máy là người nộm có thể lấy tên, giương cung bắn

3. Thương nghiệp

Khi mới lên cầm quyền, Tokugawa Leyasu vẫn đẩy mạnh giao dịch với bên ngoài. Những thuyền này được cấp chứng chỉ “Ngự chu ấn trạng” và chúng còn gọi là Chu ấn thuyền. Chúng đã buôn bán khắp đông Nam Á, giao dịch với các nước phương Tây như Anh, Bồ, Hà Lan, TBN, Ý,.. thậm chí tận Mehico.

Chu Ấn thuyền có sự kết hợp kỹ thuật Đông lẫn Tây
Chu Ấn thuyền có sự kết hợp kỹ thuật Đông lẫn Tây

Sang năm 1639, Nhật Bản ban bố lệnh tỏa quốc- nhưng vẫn giao dịch hạn chế với Hà Lan ở Nagasaki. Tuy ngoại thương sụt giảm nhưng nội thương lại phát triển mạnh. Nhiều thành phố như Tokyo, Kyoto, Osaka trở thành trung tâm thương nghiệp. Như ở Osaka, mỗi năm có đến 4 triệu thạch gạo được chở tới để buôn bán.

Số thương đoàn, thương hội cũng phát triển, như Osaka thương đoàn gạo có đến 1351 người, thương hộ Edo có 2100 thương gia. Nhật Bản có đến 70 nhà triệu phú. Có những người như Mitsu, Sumitomo kinh doanh từ tk 17 cho đến sau này. Chúng manh nha dần những hình thức tư bản độc quyền sau này.

4. Kỹ thuật

Tuy tiếp thu, học hỏi văn minh Trung Hoa khá muộn nhưng hầu hết thành tựu kỹ thuật Trung Hoa lại được bảo tồn, duy trì tốt ở Nhật như: xe chỉ Nam, máy đào đất,…

Bên cạnh đó, nhờ quan hệ buôn bán thường xuyên với Hà Lan, văn hóa kỹ thuật phương Tây vẫn lan truyền vào Nhật. Nó bùng lên một phong trào trong giới trí thức, học tập, nghiên cứu theo phương tây, nó gọi là “Hà Lan học”. Nhờ đó Nhật tiếp thu ít nhiều khoa học, kỹ thuật phương Tây, giúp rút ngắn phần nào khoảng cách giữa Tây và Nhật.

Sách Hà Lan học
Sách Hà Lan học

===============

Dễ thấy sự phát triển kinh tế xã hội Nhật còn biểu hiện qua sự phong phú, đa dạng, đặc sắc về văn hóa Nhật – biểu hiện vô cùng rõ nét.

Ngoài ra ta còn thấy bức tranh bình minh tư bản trong nền kinh tế Nhật Bản, cùng những điều kiện khác cho thấy không phải tự nhiên ở châu Á chỉ có Nhật có thể cải cách thành công toàn diện ( Thái cải cách nửa vời) , mà cũng không tự nhiên ở châu Á chỉ Nhật mới vươn tầm đế quốc cho đến bây giờ.

Van Cao Nguyen

Lịch sử Việt Nam

Tại sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh như Hàn Quốc?

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều […]
10

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều tội ác chiến tranh tại Trung Quốc và Việt Nam. Những thiệt hại mà phía Trung Quốc và Việt Nam gánh chịu cũng không hề thua kém so với phía Hàn Quốc, nếu không muốn nói là hơn. Nhưng, thái độ của Việt Nam và Trung Quốc với Nhật Bản khác hoàn toàn thái độ của Hàn Quốc với Nhật Bản. Trong diễn đàn giao lưu văn hóa Việt Nhật, có khá nhiều người Nhật đặt ra câu hỏi: Tại sao Việt Nam và Trung Quốc không yêu cầu Nhật Bản đền bù tội ác chiến tranh, trong khi Hàn Quốc thì luôn luôn đòi hỏi?

Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Hàn Quốc

Thực tế, theo Hiệp định cơ bản Hàn – Nhật và Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật được kí năm 1965, Nhật Bản đã đền bù cho phía Hàn Quốc khoảng 300 triệu USD tiền mặt, cho vay ưu đãi khoảng 200 triệu USD và và thu xếp vốn, đào tạo nhân lực, hỗ trợ công nghệ, kỹ thuật cho một số dự án tại Hàn Quốc. Trong Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật có ghi rõ rằng “Cam kết giải quyết hoàn toàn và triệt để tài sản, quyền lợi, lợi ích của hai nước và nhân dân khi kí kết hiệp định..”.  Ngoài ra, Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật còn lấy căn cứ đòi bồi thường từ phía Hiệp ước hòa bình San Francisco – hiệp định mà Nhật Bản sẽ tiến hành bồi thường cho các nước Đồng Minh nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ.

Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn - Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc
Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc (Ảnh Wikipedia)

Tức là nếu xét đúng nghĩa ra, thì Nhật Bản đã hoàn tất dứt điểm các yêu cầu đòi đền bù từ phía Hàn Quốc thông qua hiệp định song phương và đa phương.

Tuy nhiên, những năm 2000, phía Hàn Quốc muốn lật lại hồ sơ chiến tranh, xoáy sâu vào tội ác chiến tranh của Nhật Bản tại bán đảo Triều Tiên và muốn phía Nhật Bản tiếp tục đền bù hậu quả chiến tranh. Phía Hàn Quốc lúc đó có động thái giống như kiểu: “Tôi biết, nhưng đền bù như thế là quá ít”.

Phía Hàn Quốc tiến hành “lách luật”, cho rằng Chính phủ Nhật Bản mới chỉ đền bù cho Chính phủ Hàn Quốc chứ chưa đền bù cho người dân Hàn Quốc. Các hiệp định, thỏa thuận về đền bù tội ác chiến tranh đều do hai bên Chính phủ thỏa thuận, ký kết và làm việc, còn người dân Hàn Quốc thì không được hưởng. Và rồi, nhiều công dân Hàn Quốc là nạn nhân của chiến tranh tiến hành khởi kiện các công ty Nhật Bản tại Hàn Quốc, yêu cầu đền bù. Phía Nhật Bản khó chịu ra mặt, các công ty Nhật Bản cũng không đồng tình, thì phía Tòa án Hàn Quốc ra phán quyết tịch thu tài sản của một số công ty Nhật tại Hàn Quốc.

Nhằm theo đuổi vụ kiện, phía Hàn Quốc thậm chí còn từ bỏ quyền chiến thắng, gỡ bỏ tư cách Hàn Quốc thuộc khối Đồng Minh tại Chiến tranh Thế giới thứ II. Tháng 8/2019, KBS dẫn nguồn tin từ một cán bộ ngoại giao Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không phải là quốc gia thắng trận, không thuộc khối Đồng Minh, không tham gia vào Hiệp ước San Francisco. Rồi họ “lật kèo”, cho rằng Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật thực chất chỉ giải quyết vấn đề công nợ của hai quốc gia.

Phía Nhật Bản muốn giải quyết vấn đề theo thông lệ quốc tế, mong muốn phía Hàn Quốc cử đại diện tham gia vào Ủy ban trọng tài quốc tế thì phía Hàn Quốc từ chối. Tháng 7/2019, phía Hàn Quốc khước từ và cho rằng phải do Tư pháp Hàn Quốc xử lý – nói trắng ra là Hàn Quốc phán như thế nào thì phía Nhật phải tuân theo.

Nhật từng đền bù cho VNCH vì sức ép của Mỹ

Nhật Bản cũng từng đền bù cho Việt Nam, nhưng lại đền bù cho phía Việt Nam Cộng Hòa vì sức ép của Mỹ. Phía Nhật cho rằng nếu đền bù, họ phải đền cho phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – tức là Bắc Việt, vì tội ác lớn nhất mà họ gây ra là nạn đói Ất Dậu diễn ra tại Bắc Bộ chứ không phải là ở miền Nam.

Lúc đầu, phía Quốc gia Việt Nam yêu cầu Nhật Bản bồi thường 2 tỷ USD nhưng phía Nhật Bản cho rằng số tiền đó là quá lớn và đối tượng đền bù là sai – vì một số thành viên nội các Nhật muốn đền bù cho phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1956, VNCH yêu cầu Nhật Bản đền bù 250 triệu USD, Nhật Bản không chịu. Do quá túng tiền, VNCH “mặc cả” số tiền đền bù xuống còn 39 triệu USD. Việc chốt kèo diễn ra, Nhật Bản sẽ xây nhà máy thủy điện Đa Nhim cho VNCH.

Vì sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh?

Năm 1973, sau khi kí Hiệp định Paris, Nhật thừa nhận có hai chính quyền ở Việt Nam. Họ cử một viên chức đại diện ngoại giao Nhật đến Hà Nội, mong muốn đề cập đến vấn đề bồi thường cho nạn nhân miền Bắc chết đói vào năm 1945. Phía Nhật khá là sòng phẳng khi luôn tâm niệm rằng, nếu đền bù, phải đền bù cho đúng.

Điều bất ngờ là chỉ mất vỏn vẹn 5 tháng, phía VNDCCH và Nhật Bản tiến hành xong các trao đổi về bồi thường. Theo đó, phía Nhật sẽ không phải bồi thường hậu quả chiến tranh, phía VNDCCH sẽ không khoét sâu vào tội ác chiến tranh. Nhật Bản sẽ viện trợ cho VNDCCH và ủng hộ công cuộc thống nhất của nhân dân Việt Nam.

Đầu tiên, phía VNDCCH mong muốn có thêm bạn bè và không muốn khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh, còn Nhật Bản đang muốn gây dựng lại hình ảnh hòa bình, hợp tác. Phía VNDCCH đề nghị phía Nhật Bản viện trợ nhân đạo thay vì bồi thường chiến tranh, rõ ràng, cụm từ “viện trợ nhân đạo” có ý nghĩa ngoại giao rất lớn trong lúc cả hai đang gây dựng hình ảnh với thế giới.

Tính đến năm 1973, cũng đã trải qua gần 30 năm từ khi các tội ác chiến tranh xảy ra và nhiều người gây ra tội ác đã không còn nữa. Nhật Bản vừa là kẻ gây ra tội ác chiến tranh, nhưng cũng đồng thời là một nạn nhân. Việt Nam thấu hiểu Nhật Bản ở tư cách của một quốc gia bị chiến tranh tàn phá. Hai quốc gia nhất loạt khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Thực tế, Nhật Bản cũng rất thiện chí đền bù, họ luôn xác định rằng các nạn nhân của nạn đói đều ở miền Bắc và họ muốn đền bù cho Chính phủ VNDCCH – đại diện cho miền Bắc Việt Nam.

Đó là vì sao mà hai bên rất nhanh chóng đi đến các thỏa thuận dàn xếp khắc phục hậu quả chiến tranh. Việt Nam chính là quốc gia cuối cùng mà Nhật Bản tiến hành các đàm phán về việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Và cũng là cuộc đàm phán nhanh nhất về vấn đề này. Cuộc đàn phám cuối cùng này đã tháo gỡ cái gông cùm “tội ác chiến tranh” cho Nhật Bản, nhưng cuối cùng, người Hàn lại mang nó trở lại.

Một phần nữa, khiến Việt Nam không lớn tiếng đòi hỏi đền bù như Hàn Quốc vì phúc lợi cho những nhóm người yếu thế, như thương binh, nạn nhân chiến tranh khá tốt. Tại Việt Nam, gần như không có các trường hợp kiện cáo liên quan đến phúc lợi xã hội thời kỳ chiến tranh xảy ra, nếu có, thì thường liên quan đến các vấn đề xác định đối tượng hơn. Còn phía Hàn Quốc thì có, chính vì che lấp đi những sai phạm, phía Hàn Quốc muốn chĩa mũi sang phía Nhật Bản.

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính Hàn Quốc tại Việt Nam

Một yếu tố khiến người Việt không “đay nghiến” chuyện tội ác chiến tranh là xuất phát từ lịch sử.

Trong lịch sử, đặc biệt là thời phong kiến, Nhật Bản và Trung Quốc chưa bao giờ xem Hàn Quốc là một quốc gia ngang hàng, nếu không muốn nói là chư hầu, thuộc địa. Chính vì sự mặc cảm đó, nên Hàn Quốc duy trì một thái độ tương đối thù địch với Nhật Bản, họ muốn vượt Nhật Bản, muốn vượt qua khỏi tâm thế yếu kém trong quá khứ. Vì thế, họ chấp nhận đào sâu vào vấn đề tội ác chiến tranh, bắt ép Nhật Bản phải “nhận thua”.

Còn với Việt Nam, tâm thế khác hẳn. Trong lịch sử, Việt Nam khá “bướng”, mặc dù ở ngay dưới Trung Quốc, đánh nhau liên miên, lễ vật cho Trung Quốc khá nhiều, nhưng các triều đại Việt Nam vẫn duy trì một tâm thế độc lập, tự chủ. Tức là mặc áo long bào, có ấn tín riêng, không chấp nhận cử thái tử kế thừa đi học tại Trung Quốc, đi sứ Trung Quốc thì cứ thẳng tiến cổng chính mà bước vào… Còn với Nhật Bản, mối giao hảo trong quá khứ cũng tương đối lành, vì vốn hai quốc gia ở xa nhau. Và còn có lúc, Việt Nam gián tiếp giúp Nhật Bản thoát khỏi nhiều lần bị đe dọa chủ quyền lãnh thổ. Việc năm lần bảy lượt đòi đền bù, rồi lôi nạn nhân ra mặc cả xem ra không được đúng cho lắm với cái tâm thế ngang bằng giữa Việt Nam và Nhật Bản, hay Việt Nam với Trung Quốc. 

Việt Nam tuyên bố đứng về phe Đồng Minh và khối Đồng Minh đã thắng trận. Nhưng Việt Nam không hề đòi bồi thường hay lợi lộc gì cả, Việt Nam chỉ quan tâm đến đánh đuổi Nhật và có lại được nền hòa bình. Đó là vì sao, những khoản tiền đền bù đền không phải là mục tiêu tối thượng. Còn Hàn Quốc thì khác, họ sẵn sàng từ bỏ tâm thế “kẻ thắng trận” để theo đuổi vụ việc đòi đền bù.

Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam không phải là bồi thường chiến tranh!

Nhiều người sẽ bảo rằng: Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam coi như là khắc phục hậu quả chiến tranh rồi. Điều đó sai bét, bản chất ODA từ Nhật Bản là nguồn tiền mà chúng ta phải đánh đổi bằng tài nguyên, bằng việc ưu đãi cho các quốc gia cung cấp vốn ODA hoặc sẽ phải trả trong tương lai. Nói thì vấn đề này thì dài, nhưng tóm gọn lại, chưa có bất cứ văn bản chính thức nào giữa hai quốc gia coi ODA là “đền bù hậu quả chiến tranh”.

Nhìn những nạn nhân của tội ác chiến tranh tại Hàn Quốc cầm băng rôn, đứng xếp hàng ở vỉa hè, biểu tình đòi kiện cáo ngày này qua tháng nọ. Mình liên tưởng đến một khả năng, nếu các mẹ Việt Nam anh hùng, các bác thương binh hay người thân của họ cũng làm như vậy, thì sẽ thế nào? Trước tiên, đó là lỗi của chúng ta, những thế hệ sau, đã không tròn trách nhiệm, nghĩa vụ với người đi trước. Sau đó, là cảm giác như kiểu đem sự thương đau ra nhắc đi nhắc lại vậy.

Hòa giải, không có nghĩa là lãng quên một cách vô tình hay cố ý những tội ác, xung đột trong quá khứ hay nỗ lực, mặc cả dựa để đạt được các quyền lợi kinh tế. Hòa giải, ở đây, là làm việc cùng nhau, đối diện với nhau, coi quá khứ như một bài học để hướng đến tương lai.

Tifosi