Văn hóa Việt Nam

Quy chế triều phục bá quan thời Lê Trung Hưng 1725 – 1789

Trang phục bá quan thời Lê Trung Hưng phát triển dựa trên quy chế thời Lê Hiến Tông, gồm 2 dạng: Triều phục và Thường phục. Trong đó, Triều phục được quy định là Bổ phục - Phốc Đầu, quy chế này bắt đầu từ đời Lê sơ năm Cảnh Thống thứ 3 (1500) và được duy trì, hoàn thiện dần vào thời Lê Trung Hưng.
204

Có 2 mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi về quy chế Triều phục bá quan, đó là năm 1661 (năm Vĩnh Thọ thứ 4 thời Lê Thần Tông) và năm 1725 (năm Bảo Thái thứ 6 thời Lê Dụ Tông).

Trong bài viết này, Đại Việt Phong Hoa xin giới thiệu tới các bạn quy chế trang phục bá quan thời Lê Trung Hưng năm 1725 với nguồn tài liệu khảo cứu chủ yếu là Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bao gồm bản dịch ra chữ Quốc ngữ và song song với đó là đối chiếu với bản chữ Hán).

Xem thêm: Cấu trúc cơ bản của các trang phục cổ Việt Nam

Quy chế triều phục bá quan thời Lê Trung Hưng 1725 - 1789
Quy chế triều phục bá quan thời Lê Trung Hưng 1725 – 1789

Bào phục

Từ quan Nhất phẩm đến Tam phẩm dùng màu đỏ; Tứ phẩm, Ngũ phẩm dùng màu lục, Lục phẩm trở xuống dùng màu xanh.

– Nhất phẩm đến Tam phẩm đội mũ Phốc đầu gắn trang sức bằng bạc.

– Quan Tứ phẩm và Ngũ phẩm, về hàng Võ đội Nón sơn bạc; về hàng Văn, đội mũ Phốc Đầu gắn trang sức bằng thau.

Từ Lục phẩm trở xuống, về hàng Võ đội Nón sơn son: về hàng Văn đội mũ Phốc Đầu không trang sức.

Viên quan giữ việc hình pháp (Pháp quan) đội mũ Giải Trãi.

Đai lưng

– Quan Nhất phẩm, Nhị phẩm dùng sừng con hoa tê, gắn trang sức bằng bạc, bọc lụa đỏ. 

– Quan Tam phẩm dùng đai đồi mồi gắn trang sức bằng bạc;  riêng đai lưng của Đô ngự sử giống như đai của viên quan hàm Nhị phẩm.

– Quan Tứ phẩm, Ngũ phẩm về hàng Võ, đai thắt dùng màu tía; về hàng Văn, dùng đồi mồi viền thau, bọc đoạn thâm.

Quan từ hàm Lục phẩm trở xuống, về hàng Võ đai thắt dùng màu xanh, về hàng Văn dùng gỗ tốc hương viền thau, bọc đoạn thâm.

Bổ tử

– Quan Nhất phẩm, Nhị phẩm, về hàng Văn dùng hình con Tiên Hạc; về hàng Võ, dùng hình con Bạch Trạch. 

– Tam phẩm, về hàng Võ dùng hình con Sư Tử, về hàng Văn dùng hình con Cẩm Kê (Chim trĩ).

– Tứ phẩm về hàng Võdùng hình con Hổ, về hàng Văn dùng hình Khổng Tước (con công).

– Ngũ phẩm, về hàng Võ dùng hình con Báo, về hàng Văn dùng hình Vân Nhạn (Vịt trời).

– Từ Lục phẩm trở xuống, về hàng Võ dùng hình Tượng (con voi), về hàng Văn dùng hình con Bạch Nhàn (Gà lôi trắng).
Viên quan giữ việc hình pháp dùng bổ tử thêu con Giải Trãi.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các nước đồng văn

————–

Nguồn: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn – Viện Sử Học – Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển XXXVI. Nhà xuất bản Giáo Dục – Hà Nội (1998).

Đại Việt Phong Hoa

Văn hóa Việt Nam

Cổ phục Việt Nam thế kỷ 17 qua những ghi chép của giáo sĩ phương Tây hoạt động tại Đàng Trong

Những ghi chép về cổ phục Việt Nam của giáo sĩ phương Tây hoạt động tại Đàng Trong (1617- 1622) được nhiều học giả đánh giá là nguồn tư liệu tốt nhất mô tả lại tình hình Đàng Trong đầu thế kỷ 17.
196

Trong công tác nghiên cứu học thuật nói chung và khảo cứu, phỏng – phục dựng cổ phong nói riêng, việc tiếp cận được với một số lượng tư liệu, hiện vật liên quan tới đối tượng được nghiên cứu là vô cùng quan trọng, bởi càng tham khảo, phân tích nhiều thông tin thì cá nhân hay đơn vị tiến hành nghiên cứu càng có cái nhìn đa chiều và khách quan về đối tượng được nghiên cứu.

Chính vì lý do đó, ngoài các ghi chép, tranh vẽ, tượng, phù điêu, hiện vật, etc. do người Việt xưa cũng như các nước đồng văn thực hiện, chúng tôi còn cố gắng tìm tòi và sử dụng các ghi chép của người phương Tây viết về nước Việt xưa, trong đó có tác phẩm Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (tạm dịch: ‘Tường thuật về sứ mạng mới của các cha Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong) của giáo sĩ người Ý Cristoforo Borri.

Christoforo Borri là một giáo sĩ dòng Tên sinh ra tại Milan; cuối năm 1617- đầu 1618, ông cùng với các đạo hữu xuất phát từ Áo Môn (Macau) tới Hội An để truyền giáo và được biết đến dưới tên gọi “Bruno”. Những ghi chép mà Borri thực hiện trong thời gian ông hoạt động tại xứ Đàng Trong (1617- 1622) được nhiều học giả đánh giá là nguồn tư liệu tốt nhất mô tả lại tình hình Đàng Trong đầu thế kỷ 17.

Trong loạt bài này, chúng tôi sử dụng trực tiếp tài liệu sơ cấp là nội dung của chương 5: “Delle qualità, conditioni, costumi de’ Cocincini, del loro modo di vivere, vestire, e medicarsi” (tạm dịch: Về phẩm chất, tính tình, phong tục của người Đàng Trong, cách sinh hoạt, ăn mặc và y học) thay vì tham khảo các bản dịch hay những bài viết phái sinh từ các bản dịch trên (tài liệu thứ cấp bậc 1, bậc 2,…)

Trang phục của nữ giới

Về chất liệu may trang phục, theo Borri, tất cả đều được may bằng tơ lụa; điều này xét trên thực tế là rất hợp lý bởi dưới sự cai quản của các đời chúa Nguyễn, Hội An là một trong những thương cảng sầm uất nhất khu vực Đông Á, nơi mà cả người Á châu lẫn Âu châu đều đến để buôn bán, góp phần tạo nên điều kiện sống dư dả cho người dân nơi đây.

Về cấu trúc cơ bản của các trang phục cổ Việt Nam, Borri đánh giá cách phụ nữ Đàng Trong ăn mặc là giản dị nhất khu vực, và bất chấp khí hậu nóng bức, họ luôn mặc các bộ quần áo dài phủ kín toàn bộ cơ thể.

Họ mặc tới năm hay sáu váy áo (Usano cinque, o sei vesti), lớp nọ chồng lên lớp kia và tất cả đều có màu sắc khác nhau. Lớp thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là lớp thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng nửa bàn tay, rồi tới cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế, lớp nọ ngắn hơn cái kia sao cho màu sắc của từng lớp áo đều được phô bày. Đó là thứ phái nữ mặc từ thắt lưng xuống bên dưới. 

Điều đáng nói ở trong đoạn miêu tả này chính là việc tác giả dùng từ “vesti” (dạng số nhiều của từ “veste”). Trong tiếng Ý, “veste” có từ nguyên là từ “vestis” trong tiếng Latin. Cả “vestis” trong tiếng Latin và “veste” trong tiếng Ý đều được dùng để chỉ quần áo, trang phục nói chung, hoặc để chỉ các loại áo may từ khổ vải dài và lớn như toga của người La Mã hay các dạng áo giao lĩnh, viên lĩnh, đối khâm,… của người Á Đông.

Nhiều bản dịch “vesti” là “váy”, tuy nhiên, điều này là không chính xác bởi khi đối chiếu với các thứ tiếng khác thuộc nhóm ngôn ngữ Rô – man như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… thì các từ có nghĩa tương đương với “veste” đều có chức năng chỉ cái dạng áo thân dài chứ không hề để gọi sự vật “váy”.

Lớp áo thứ nhất trong mô tả của Borri có thể là thân áo (giao lĩnh, viên lĩnh, khúc lĩnh,…) hoặc cũng thể là chính là “thường”, bởi các lần áo, cũng theo mô tả của Borri, được buộc cố định ở giữa thân và nhiều khả năng, phần đai buộc thường đã bị che mất, và nếu thượng y và thường có cùng màu sắc và chất liệu thì việc Borri cho rằng lần áo thứ nhất là một thứ áo dài chấm đất là hoàn toàn khả thi.

Quá trình phát triển trang phục của nữ giới
Quá trình phát triển trang phục của nữ giới

Hơn nữa, những ghi chép trên của Borri nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự trùng hợp với nhân vật nữ nhân An Nam Quốc trong bộ tranh Hoàng thanh chức cống đồ” (皇清職貢圖). Bộ tranh này được biên soạn vào năm Càn Long thứ 16 (1751) và hoàn thành vào năm Càn Long thứ 22 (1757). Vậy bức tranh vẽ phụ nữ Đàng Ngoài được thực hiện bởi người Đại Thanh thì có liên quan gì tới trang phục của phụ nữ Đàng Trong đầu thế kỷ 16?

Trang phục của nữ giới với phần dưới là váy nhiều tầng, phần trên gồm nhiều áo. Hoàng Thanh Chức cống đồ vẽ người phụ nữ mặc trang phục gồm nhiều áo giao lĩnh với độ dài khác nhau cũng tạo thành phần dưới có nhiều tầng với hiệu quả tương đương nhưng là loại khác với mô tả trong sách.
Trang phục của nữ giới với phần dưới là váy nhiều tầng, phần trên gồm nhiều áo. Hoàng Thanh Chức cống đồ vẽ người phụ nữ mặc trang phục gồm nhiều áo giao lĩnh với độ dài khác nhau cũng tạo thành phần dưới có nhiều tầng với hiệu quả tương đương nhưng là loại khác với mô tả trong sách.

Cần nhớ rằng, thời điểm Borri thực hiện những ghi chép này cách rất xa thời điểm chúa Nguyễn Phúc Khoát tiến hành cải cách trang phục ở Đàng Trong, hơn nữa, Borri đặt chân tới Việt Nam khi mà thế cục Nam Hà – Bắc Hà mới được hình thành chưa lâu, tuy chúa Nguyễn cố gắng xây dựng chính quyền độc lập tuy nhiên xét về cách ăn mặc, ở giai đoạn đầu thế kỷ 17, trang phục ở hai miền về cơ bản không quá khác biệt.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các nước đồng văn

(Còn tiếp)

Đông Du

Văn hóa Việt Nam

Nguồn gốc, ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa của áo Nhật Bình

Hãy cùng tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa về áo Nhật Bình để thấy được cổ phục Việt Nam ngày càng đến gần hơn với thế hệ trẻ, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa dân tộc.
9

Nguồn gốc áo Nhật Bình

Áo Nhật Bình là Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng hậu, công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là dạng áo Phi Phong thời Minh, là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo.

Thường phục Nhật Bình được đặt định vào năm 1807 thời vua Gia Long và được duy trì cho đến cuối thời Nguyễn… tư liệu tranh ảnh đầu thế kỉ XX cho thấy bất kể hoàng hậu, công chúa hay cung tần đều vấn khăn vành, mặc áo Nhật Bình.

Nguồn gốc Áo Nhật Bình là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên, là dạng áo Đối Khâm có cổ hình chữ nhật to bản, dùng dây buộc 2 vạt áo.

Áo Đối Khâm
Áo Đối Khâm

Do hoa văn ở cổ áo khi ghép lại tạo thành một hình chữ nhật ngay trước ngực người mặc, nên áo này gọi là áo Nhật Bình. Khắp thân áo trang trí theo thể thức hoa văn chính là dạng hình tròn khép kín, rải rác khắp áo đan xen với các hình phượng múa, hoa lá đính thêm các hạt tuyến lấp lánh. Ở tay áo đặc biệt có dải màu ngũ hành; lục, vàng, xanh, trắng, đỏ. Tuy nhiên quy chế tay dãy màu này lại không áp dụng trên loại áo Nhật Bình của bậc Hậu.

Áo Nhật Bình
Áo Nhật Bình

Ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa về áo Nhật Bình

Xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nhận thấy qua ghi chép về điển lễ và phẩm phục triều nghi của nước ta, các đời Lý Trần Lê cho đến nhà Nguyễn đều được xây dựng dựa trên cơ sở của cùng các triều đại Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Minh nhưng theo lối “đại đồng tiểu dị”, vẫn mang những nét đặc sắc rất riêng của Đại Việt ta.

Sự học hỏi và phỏng theo quy chế của Trung Hoa điều này bắt nguồn từ tâm lý tự tôn, muốn sánh ngang với các triều đại phong kiến phương Bắc, điều này được thể hiện rất rõ ràng từ việc các vua Đại Việt trong nước đều xưng đế chứ không xưng vương, các triều đại khi lên đều đặt định phẩm phục và đặt định lễ nhạc theo văn hóa Hoa Hạ, coi mình là Trung Châu, Trung Hạ tức là trung tâm của một nền văn hóa khu biệt so với các sắc dân “man di”.

Theo quy chế nhà Nguyễn thì màu áo của bậc Hậu đều là màu vàng chính sắc, đôi khi là màu cam; còn bậc Công chúa đều là màu đỏ chính sắc, bậc Phi tần nhị giai là màu xích đào, bậc Tam giai là màu tím chính sắc và bậc Tứ giai là màu tím nhạt, bậc phi tần thấp hơn không có quy định trang phục này. Màu sắc áo của các mệnh phụ quy định dựa vào phẩm cấp của chồng. Bậc Nữ quan có trang phục đơn giản hơn hẳn, gần với áo Phi Phong nguyên mẫu nhất.

Vào thời Gia Long và Minh Mạng, quy chế còn đủ đầy, áo Nhật Bình thường phối với một bộ Xiêm y màu tuyết bạch, đội mũ Phượng tùy thứ bậc. Tuy nhiên về sau, nhất là từ thời Đồng Khánh trở đi, trang phục này thường phối với quần ống trắng và vấn khăn vành to bản, cho thấy quy chế thời kì cuối nhìn chung ở cung đình đã tối giản hơn hẳn. Sau khi thời Nguyễn kết thúc, bộ áo này trở thành bộ áo trang trọng của giới quý tộc được mặc vào một số dịp lễ và nhất là ngày cưới.

Trong xã hội ngày nay, chúng ta đang dần hướng về với những căn cước văn hóa của dân tộc, nỗ lực bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống từ những trang phục truyền thống của Việt Nam. Rất nhiều cô dâu ở Huế từng một lần khoác lên mình chiếc áo Nhật Bình khi vái lạy bàn thờ tổ tiên trong ngày theo chồng, nhưng ngày nay nhiều người đôi khi lại không biết đó là kiểu trang phục có tên rất hay và in đậm giá trị của người Việt.

Tôi nhận thấy bên cạnh việc phát triển những yếu tố xã hội khác thì chúng ta cần phải lưu tâm phát triển, gìn giữ cho được giá trị riêng vốn có của trang phục truyền thống Việt Nam nói chung và Nhật Bình nói riêng.

Hiện nay, nhiều nhà may ở các thành phố lớn đã may, bán và cho thuê áo Nhật Bình. Đây cũng là mẫu trang phục gần gũi với nhiều cô dâu trong ngày cưới khi hành lễ trước ban thời gia tiên. Hình ảnh cổ phục Việt Nam càng ngày càng đến gần hơn với thế hệ trẻ, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa dân tộc.

Áo Nhật Bình chính là một trong những trang phục mang yếu tố để thể hiện cái riêng, mang dấu ấn đậm chất cung đình trong triều đại quân chủ cuối cùng của nước ta.

Áo Nhật Bình và Phi Phong có khác nhau không? 

Xin phép thưa là không khác nếu xét về cấu trúc của các trang phục cổ Việt Nam. Nhận định trên có những lý giải sau:

– Về mặt nguồn gốc, Nhật Bình vốn dĩ là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên. Cấu tạo cơ bản nó theo sát Phi Phong Minh và Thanh.

– Về mặt kết cấu may mặc, có thể khẳng định bắt đầu từ thời kì Bắc thuộc, các dạng thức may mặc của ta đều có sự học hỏi nhất định văn hóa phương Bắc. Các dạng áo như giao lĩnh, viên lĩnh, vân vân và mây mây khác trong đó có Nhật Bình đều dựa trên kết cấu may mặc từ phương Bắc để phát triển.

Nhiều bạn nghĩ rằng chỉ thay đổi vị trí nút, viền cổ… thì nó thành Việt phục cách tân? Thực sự tư duy như vậy chưa chuẩn. Chỉ nói riêng Phi Phong của Minh – Thanh, cũng chưa có quy chế ràng buộc chặt chẽ về độ dài áo, số lượng và vị trí nút… 

Nếu sau khi giản lược hóa các họa tiết Nguyễn để áo trở nên thanh cảnh hơn, vô tình đưa nó về giản tinh yếu nhất. Xin thưa, “Đại đồng tiểu dị”, vốn bản chất cái giống đã lớn vì vậy khi bạn giản lược hết các yếu tố “tiểu dị” đi thì cái áo vô hình chung sẽ trở về dạng cơ bản nhất của nó, sát với ban đầu vậy. Mà ban đầu của Nhật Bình thì ai cũng rõ, vốn là Phi Phong.

Vậy Nhật Bình khác Phi Phong như thế nào? 

Người nói là khác ở viền cổ, người nói khác ở tay ngũ sắc, người nói ở hoa văn trang trí…. Theo mình, các ý đều đúng, nhưng không đủ. Vì như mình đã trình bày ở trên, Phi Phong của Minh không có quy định rõ về tiêu chuẩn may, mặc cơ bản dạng thức áo, nên nếu họ thích họ vẫn có thể pha tay ngũ sắc (Vốn là phong cách của Thanh), Loan phượng ổ, viền cổ áo… miễn là không sai khác về kết cấu cơ bản, thì người Trung Quốc vẫn gọi đó là Phi Phong (Bạn nào tra các hiện vật áo tuồng kịch của Trung Quốc thời Thanh sẽ thấy họ chế áo Phi Phong tương tự Nhật Bình của Nguyễn đấy).

Làm sao để phân biệt áo Nhật Bình với áo Phi Phong?

Xin thưa đó là “Quy chế” hay nói hoa hòe hơn là “Điển chế” được nhà Nguyễn quy định. Tức là các vấn đề về hoa văn cổ áo, thêu ổ, màu sắc, người sử dụng, lễ tiết sử dụng đều được nhà Nguyễn quy định rất rõ trong Điển chế. Cái này Phi Phong của Minh – Thanh chắc chắn không có ghi nhận.

Chính những quy định về chế độ mũ áo này nó đã tạo ra các đặc điểm đặc trưng về cả bên ngoài (hoa văn, thêu, màu sắc) và nội hàm, ý nghĩa bên trong của Nhật Bình (tác dụng của áo, giá trị của áo) và làm nên sự khác biệt, bản sắc cho áo Nhật Bình của Nguyễn triều.

Áo Nhật Bình có “cách tân” được không?

Xin phép trả lời thẳng là “không”. Không thể có khái niệm “Nhật Bình cách tân” như hiện nay đang lạm dụng. Như đã giải thích ở trên, Nhật Bình vốn bản chất nó là loại áo lễ tiết, được hậu cung và mệnh phụ nhà Nguyễn sử dụng trong các dịp lễ lạt theo quy định rất chặt chẽ.

Các quy định này nó gò bó cả yếu tố màu sắc, trang trí bên ngoài và nội hàm bên trong. Nó ràng buộc vị thế của người sử dụng theo thứ bậc rất khắt khe thời phong kiến. Những điều này đã được ghi rõ trong điển chế của nhà Nguyễn và chỉ có thỏa được như vậy nó mới được chép và quy định là “Nhật Bình”.

Nếu muốn được gọi là “Nhật Bình cách tân” chỉ trừ trường hợp nhà Nguyễn còn tồn tại (Như Hoàng gia Nhật) và thay đổi quy chế đã định từ thời trước thì việc cách tân để đổi mới quy chế cũ mới diễn ra. Tất cả những sự thay đổi về kết cấu, đồ hình, màu sắc, mục đích sử dụng khác với quy định sẽ tự động loại bỏ nó ra khỏi khái niệm “Nhật Bình”.

Điều này nói đơn giản “Y phục xứng kì đức” – “Y quan thuận chế độ”, chế độ nào điển lệ y quan ấy thì “” mới là “”. Còn thay đổi điển chế cái áo lễ chế theo bất kì hướng nào rồi nói nó là “Cách tân” đều giống như việc bạn mặc bộ đồ sô gai để làm đám cưới rồi nói đó là đồ cưới cách tân vậy.

Nhìn lại hệ thống cổ phong chuyên nghiệp của các nước đồng văn Đông Á, mọi người sẽ nhận thấy, họ cách tân và phát triển dựa trên hệ dạng cấu trúc áo quần hoặc tập trung vào tiện phục, đồ thường. Việc cách tân các trang phục lễ nghi theo quy chế rất ít và ngày càng được loại bỏ, dần đi đến sự đúng và chân thật nhất trên mảng này. Đây là xu hướng chung mà ta cần theo.

Xét một mặt khác, việc thay đổi bản sắc văn hóa trên Nhật Bình để cách tân làm chúng ta mất đi cái đặc sắc của cha ông đã sáng tạo nên. Một phần trong tuyên truyền dễ gây lúng túng và hiểu lầm cho cộng đồng thế giới. Ví dụ như: “Dân Việt Nam mặc đồ cổ áo ngắn như Đường y của Hàn vậy (Nhật Bình cắt vạt)?”, “Sao cái áo ấy giống Phi Phong vậy (Nhật Bình giản lược hoa văn)?”… Việc này không phải là định hình văn hóa mà là làm lệch đi bản chất văn hóa của trang phục cổ Việ Nam.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các nước đồng văn

Xu hướng cách tân cổ phục là sai?

Cũng xin phép thưa, không sai mà là đúng hoàn toàn!

Nhưng cách tân phải dựa trên sự giữ vững bản sắc và tính chất trang phục. Tất cả mọi trang phục cổ đều có thể cách tân, nhưng cách tân không có nghĩa nó là trang phục đó. Các bạn có thể cách tân Nhật Bình, mình khuyến khích việc này vì như vậy có thể đem cổ phục vào số đông nhanh hơn. Nhưng không nên chú thích nó là “Nhật Bình” vì đơn giản mình đã giải thích rồi, nó không phải là Nhật Bình nữa. Nói nó là Nhật Bình chỉ gây tranh cãi thêm mà thôi.

Đồng thời, mọi sự cách tân trang phục cổ phải xác định được rõ yếu tố bản sắc dân tộc, tính chất đặc trưng của trang phục (hình thức và nội dung) để có sự lựa chọn và điều chỉnh cho đúng đắn. 

Xem thêm: Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Vậy nên gọi “áo Nhật Bình cách tân” sao cho chuẩn?

Như mình đã viết, hãy học các nước Đồng văn, cách tân và gọi theo dạng thức cấu trúc, các bạn hoàn toàn có thể gọi nó là áo Phi Phong Nguyễn (Bản chất đã vậy thì không cần phải từ chối, điều này cha ông cũng thừa nhận) hoặc nếu sợ việc quá giống Trung Quốc nhạy cảm thì các bạn cứ gọi nó là “áo Đối khâm theo phong cách Nguyễn”. Việc này sẽ tránh gây tranh cãi và đi giải thích thêm, vừa không gây hiểu nhầm về cổ phục Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

———————

Tổng hợp từ: Đại Việt Phong Hoa, Theo dòng sử Việt

Văn hóa Việt Nam

Cấu trúc cơ bản của các trang phục cổ Việt Nam

Tổng hợp kiến thức cơ bản về cổ phục Việt Nam do họa sĩ Trần Kiên chia sẻ sau nhiều năm tự nghiên cứu. Mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử tìm hiểu về cấu trúc của các trang phục Việt Nam nhé.
11

1. Thân áo – Cấu trúc thân các loại áo cơ bản

1.1. Viên lĩnh – lục thân

Viên lĩnh - lục thân (mặt ngoài)
Viên lĩnh – lục thân (mặt ngoài)
Viên lĩnh - lục thân (mặt trong)
Viên lĩnh – lục thân (mặt trong)
Viên lĩnh - lục thân (mặt lưng)
Viên lĩnh – lục thân (mặt lưng)
Viên lĩnh - lục thân (cởi nút cổ ngoài)
Viên lĩnh – lục thân (cởi nút cổ ngoài)
Viên lĩnh - lục thân (cởi nút cổ ngoài và cổ trong)
Viên lĩnh – lục thân (cởi nút cổ ngoài và cổ trong)

1.2. Giao lĩnh – lục thân

Giao lĩnh - lục thân (mặt ngoài)
Giao lĩnh – lục thân (mặt ngoài)
Giao lĩnh - lục thân (mặt trong)
Giao lĩnh – lục thân (mặt trong)
Giao lĩnh - lục thân (mặt lưng)
Giao lĩnh – lục thân (mặt lưng)

1.3. Lập lĩnh – ngũ thân

Lập lĩnh - ngũ thân (mặt ngoài)
Lập lĩnh – ngũ thân (mặt ngoài)
Lập lĩnh - ngũ thân (mặt trong)
Lập lĩnh – ngũ thân (mặt trong)
Lập lĩnh - ngũ thân (mặt lưng)
Lập lĩnh – ngũ thân (mặt lưng)
Lập lĩnh - ngũ thân (cởi 2 nút)
Lập lĩnh – ngũ thân (cởi 2 nút)
Lập lĩnh - ngũ thân (cởi 3 nút)
Lập lĩnh – ngũ thân (cởi 3 nút)
Lập lĩnh - ngũ thân (cởi 4 nút)
Lập lĩnh – ngũ thân (cởi 4 nút)

1.4. Viên lĩnh – ngũ thân

Viên lĩnh - ngũ thân (mặt ngoài)
Viên lĩnh – ngũ thân (mặt ngoài)
Viên lĩnh - ngũ thân (mặt trong)
Viên lĩnh – ngũ thân (mặt trong)
Viên lĩnh - ngũ thân (mặt lưng)
Viên lĩnh – ngũ thân (mặt lưng)
Viên lĩnh - ngũ thân (cởi nút cổ)
Viên lĩnh – ngũ thân (cởi nút cổ)

1.5. Đối khâm – tứ thân

Đối khâm - tứ thân (mặt ngoài)
Đối khâm – tứ thân (mặt ngoài)

1.6. Nhật bình – tứ thân

Nhật bình - tứ thân (mặt ngoài)
Nhật bình – tứ thân (mặt ngoài)

2. Tay áo – Cấu trúc, đặc điểm chung của tay áo

Tất cả các loại trang phục cổ phổ biến trong lịch sử Việt Nam như áo viên lĩnh, giao lĩnh, lập lĩnh, đối khâm, nhật bình hay là áo lục thân, ngũ thân, tứ thân đều có một đặc điểm chung là có nách rất rộng (không hề bó nách).

Cổ phục Việt Nam có nách rộng, không hề bó nách.
Cổ phục Việt Nam có nách rộng, không hề bó nách.

Riêng tay áo dài là một ngoại lệ. Tuy nhiên bản thân nó cũng đã là trang phục cách tân chứ không phải cổ phục. Tiền thân của áo dài tay áo cũng không bó sát nách.

Tay áo dài là ngoài lệ. Nhưng bản thân nó không phải là trang phục cổ Việt Nam mà là trang phục cách tân.
Tay áo dài là ngoài lệ. Nhưng bản thân nó không phải là trang phục cổ Việt Nam mà là trang phục cách tân.

3. Phụ kiện – Các chi tiết thêm vào

Phụ kiện, các chi tiết trong cấu trúc áo để gắn thêm phụ kiện…

Để gắn được thắt lưng, có 2 chỗ luồn dưới nách tay áo.

Trước ngực áo có 2 sợi dây nhỏ, để buộc phụ kiện hoặc cũng dùng để đỡ thắt lưng luôn (B).

Phụ kiện - các chi tiết thêm vào
Phụ kiện – các chi tiết thêm vào.
Một số hiện vật áo lập lĩnh, cổ áo được đính đá quý. Áo có thể cắt xẻ tà theo các đường ráp vải.
Cánh phú hậu: bên trong cánh có lồng que cứng giúp cánh dựng đứng.
Cánh phú hậu: bên trong cánh có lồng que cứng giúp cánh dựng đứng.
Cổ áo giao lĩnh có rất nhiều cách ráp vải, may khác nhau. Mỗi kiểu thức có gắn với thời kỳ lịch sử hoặc lý lịch riêng.
Cổ áo giao lĩnh có rất nhiều cách ráp vải, may khác nhau. Mỗi kiểu thức có gắn với thời kỳ lịch sử hoặc lý lịch riêng.

====================

Chú thích diễn giải:

– Đường ráp vải rất quan trọng.

– Khuy cài có thế thay thế bằng dây buộc như nhau

Chú thích diễn giải
Chú thích diễn giải.

Đây là album tổng hợp của Kiên để giúp các bạn họa sĩ trẻ muốn tìm hiểu về cấu trúc cơ bản của các trang phục cổ của Việt Nam. Hầu hết cấu trúc ngoài thì rất dễ kiếm, nhưng hình ảnh về cấu trúc bên trong gần như chưa có ai vẽ ra một cách rõ ràng. Mong album này có thể giúp đỡ được phần nào.

– Trần Kiên

Xem thêm: Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Tổng hợp từ Trần Kiên