Lịch sử Việt Nam

Máy bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang – Operation Arc Light

Máy bay B-52 được ví như Pháo Đài Bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang có sức tàn phá khủng khiếp hơn bất cứ vũ khí nào được sử dụng trong trong chiến tranh Việt Nam.
126

Trong chiến tranh Việt Nam, những chiếc máy bay B-52 được sử dụng để tấn công các mục tiêu của quân Giải Phóng ở hậu cứ, những nơi tập trung quân, kho tàng, … và nó còn được dùng cả trên chiến trường ở Lào và Campuchia để tấn công các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.

Ngày 17 tháng 2 năm 1965, những chiếc máy bay B-52 thuộc phi đội số 2 và số 320 đã được triển khai đến căn cứ Andersen AFB thuộc đảo Guam. Ngày 17 tháng 2, máy bay B-52 đã thực hiện cuộc tấn công đầu tiên ở Việt Nam vào khu vực tỉnh Bình Dương nằm ở phía Bắc Sài Gòn thuộc tỉnh Bình Dương. Trước đó, không quân Mỹ đã sử dụng máy bay chiến thuật ném bom nhiều lần vào khu vực này nhưng không đạt kết quả.

Khi thi hành nhiệm vụ đầu tiên này, Không Quân Mỹ đã gặp thiệt hại nặng khi hai chiếc máy bay B-52 va vào nhau khi đang tiếp dầu trên không ở vùng biển Thái Bình Dương và đều rơi xuống biển. 8 trong số 12 thành viên của đội bay thiệt mạng.

Sau cuộc ném bom, báo chí trong nước Mỹ cực lực phê phán khi cho rằng chính phủ đã “đập con ruồi bằng búa tạ”. Trong khi đó, tướng Westmoreland lại tỏ ra hài lòng khi cuộc ném bom đã gây thiệt hại nặng và ngăn chận được quân Giải Phóng mở cuộc tấn công vào Sài Gòn. Sau đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara đã giải thích trước Quốc Hội về lý do sử dụng máy bay B-52 ở đợt ném bom này:

Chúng ta đều biết rằng Việt Cộng đã lợi dụng các cánh rừng rậm ở Việt Nam để làm nơi trú ẩn và thiết lập căn cứ. Rừng rậm và dày đền nổi không thể nhắm bắn mục tiêu chính xác. Phương thức hiệu quả nhất đó là ném bom và máy bay B-52 rất thích hợp với công việc này. Các tướng lĩnh quân đội ở Việt Nam cho rằng các cuộc ném bom bằng B-52 đã mang lại kết quả rất tốt và đã chứng tỏ hiệu quả. Tôi cho rằng việc ném bom này nên tiếp tục.

Trong vài tháng đầu tiên, Chính phủ Mỹ kiểm soát việc sử dụng máy bay B-52 trong chiến dịch Ánh Hồ Quang rất chặt chẽ. Các mục tiêu ném bom phải được sự phê chuẩn của chính phủ Mỹ hoặc Nhà Trắng. Phái Bộ Chỉ Huy Quân Đội Mỹ MACV ở Việt Nam sẽ gửi yêu cầu ném bom bằng B-52 đến Bộ Chỉ Huy Hạm Đội Mỹ ở Thái Bình Dương – Commander-in-Chief, US Pacific Fleet ( CINCPAC ) và Bộ Chỉ Huy Không Quân Chiến Lược – Strategic Air Command ( SAC ). Sau khi CINPAC đồng ý, cơ quan SAC mới lệnh cho máy bay B-52 ném bom. Về sau, do danh sách mục tiêu và các yêu cầu ném bom ngày càng nhiều, nên sự chấp thuận cũng dễ dàng hơn. Những có những sự giới hạn mà chiến dịch Ánh Hồ Quang – Operation Arc Light phải tuân theo trong suốt cuộc chiến đó là đó là tránh những người dân thường và các đền đài tôn giáo trong khu vực cần ném bom.

Những hố bom B-52
Những hố bom B-52.

Lần đầu tiên máy bay B-52 ném bom hỗ trợ lực lượng trên bộ của Mỹ là vào tháng 11 năm 1965, quân Giải Phóng tấn công căn cứ đặc biệt Pleime và bị sư đoàn 1 Không Kỵ của Mỹ đẩy lùi. Sau đó, quân Mỹ tiến hành truy kích 2 trung đoàn quân Giải Phóng ở thung lũng Ia Drang dưới chân núi Chu Prong và là một nơi gần biên giới Campuchia. Ngày 16 tháng 11, lần đầu tiên máy bay B-52 xuất kích để yểm trợ và tổng cộng 18 chiếc máy bay B-52 đã ném xuống 344 tấn bom. Trong suốt trận đánh, ngoài 400 phi vụ của máy bay chiến thuật còn có 96 máy bay B-52 và pháo binh để yểm trợ binh sĩ Mỹ. Chỉ riêng máy bay B-52 đã ném 1.795 tấn bom xuống quân Giải Phóng.

Đến tháng 12, trong chiến dịch Harvest Moon – Operation Harvest Moon tại khu vực cách Đà Nẵng khoảng 40km về hướng Nam.  Tướng Lewis W. Walt – tư lệnh lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Dã Chiến số III –  3rd Marine Amphibious Force (III MAF) đã yêu cầu tướng Westmoreland dùng pháo đài bay B-52 đánh vào vùng hậu cứ của quân Giải Phóng. Sau trận đánh, các toán trinh sát Mỹ đã phát hiện 50-60 thi thể quân Giải Phóng và nhiều hầm ngầm, công sự, kho tàng, … bị phá hủy. Tướng Walt đã nhận xét:

Cuộc ném bom đã gây ấn tượng rất mạnh. Các máy bay B-52 ném bom rất đúng thời gian đã định và vị trí ném bom cũng rất chính xác.

Tháng 10 năm 1965, những chiếc máy bay B-52 bắt đầu được cải tiến để có thể mang được nhiều bom hơn.  Không quân Mỹ đã cải biến những chiếc máy bay này để có thể mang theo 24 rãnh bom và sức chứa bên trong thân tăng từ 9 thành 27 quả bom. Do đó, mỗi chiếc máy bay B-52 có thể mang theo 51 quả bom có trọng lượng mỗi quả 245Kg hoặc 325Kg. Sau cùng, những chiếc máy bay lúc đầu được sơn trắng nhưng sau đó sơn lại màu đen để khó phát hiện từ trên cao

Những chiếc máy bay được cải tiến này tham gia chiến dịch Ánh Hồ Quang – Opreation Acr Light lần đầu tiên vào tháng 3 năm 1966 trong các phi vụ ném bom ở khu vực Phi Quân Sự.

Ngày 11 tháng 4 và ngày 26 tháng 4, những máy bay B-52 đã ném bom khu vực đèo Mụ Giạ. Đây là khu vực nằm trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đưa tiếp viện từ miền Bắc vào miền Nam. Cuộc ném bom đầu tiên và cũng là cuộc ném bom lớn nhất từ khi bắt đầu chiến dịch Ánh Hồ Quang và cũng là cuộc ném bom lớn nhất kể từ thế chiến thứ 2, những máy bay B-52 đã ném xuống khu vực này 600 tấn bom.

Lúc này, Không quân Mỹ bắt đầu tiến hành xây dựng Trung Tâm Tác Chiến Không Quân – Combat Skybot.  Hệ thống này kết nối với các trạm Radar mặt đất và chỉ huy toàn bộ các cuộc ném bom ở vùng Đông Dương kể cả trên đất Lào và Campuchia. Khi bộ Chỉ Huy Quân Đội Mỹ – MACV ra lệnh ném bom, các sĩ quan không lưu ở trung tâm Skybot sẽ hướng dẫn các máy bay chiến thuật lẫn máy bay ném bom B-52 đi theo tuyến đường đã định và theo tốc độ được tính toán trước. Khi đến mục tiêu thả bom, vào đúng thời điểm chính xác, các phi công sẽ nhận được tín hiệu và nhấn nút thả bom. Kết quả các cuộc ném bom dưới sự chỉ huy và hướng dẫn của Skybot đã vượt qua mọi cuộc ném bom trước đó. Phần lớn các khu vực ở vùng Đông Nam Á đều nằm trong khu vực được phủ sóng của các trạm Radar và thiết bị của trung tâm Skybot kể cả vùng nông thôn.

Nhân vật lịch sử

Anh hùng phi công Vũ Xuân Thiều và quả tên lửa thứ ba

"Với B-52, tất cả đã sẵn sàng quyết chiến, bằng bất cứ giá nào cũng đánh, bất cứ điều kiện nào cũng đánh…nếu gặp B-52 mà bắn không rơi sẽ liều mình làm quả tên lửa thứ 3, nhất định tiêu diệt nó".
486

Anh hùng Vũ Xuân Thiều sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, cư trú tại phố Đặng Dung, Hà Nội. Ông là con thứ 7 trong gia đình có 10 người con. Ông từng theo học tại trường THPT Chu Văn An và Đại học Bách khoa Hà Nội. Sau này, khi đang học năm thứ 3 khoa Vô tuyến điện, Vũ Xuân Thiều trốn gia đình đi khám nghĩa vụ quân sự. Đến khi trúng tuyển đợt đào tạo phi công do Quân chủng Phòng không – Không quân tuyển, anh mới báo tin cho gia đình biết. Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa học tập và huấn luyện bay ở Liên Xô (trước đây), phi công Vũ Xuân Thiều trở về nước và được biên chế về Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (E921). Khi hy sinh, ông là thượng uý, trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Trung đoàn 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân.

 Phi công, Anh hùng LLVTND Vũ Xuân Thiều
 Phi công, Anh hùng LLVTND Vũ Xuân Thiều. (Ảnh tư liệu)

“Với b-52, tất cả đã sẵn sàng quyết chiến”

Về mặt chiến lược, ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã nhắc về máy bay B-52 với lãnh đạo Quân chủng PK-KQ. Đến năm 1966, Bác lại giao nhiệm vụ cho Quân chủng PK-KQ tìm cách đánh B-52. Và đến cuối năm 1967, Bác tiếp tục khẳng định “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội…”. Về mặt chiến dịch, kể từ năm 1966, Quân chủng PK-KQ đã lần lượt đưa tên lửa, máy bay Mig-21, ra đa vào chiến trường Khu IV để nghiên cứu cách đánh B-52. Và, từ rất sớm, các phi công chiến đấu như Vũ Xuân Thiều đã sẵn sàng cho trận quyết chiến với “siêu pháo đài bay” B-52.

Đợt không kích miền Bắc của Mỹ tháng 12-1972, Vũ Xuân Thiều nhận nhiệm vụ trực bay đêm đánh B-52. Điều này chứng tỏ anh được cấp trên đánh giá rất cao bởi chiến đấu ban ngày đã khó, chiến đấu ban đêm lại càng khó khăn hơn. Nó không chỉ đòi hỏi phi công phải có trình độ kỹ-chiến thuật cao, mà cần cả lòng dũng cảm mưu trí. Nhiều lần xuất kích không tìm diệt được B-52, phi công Vũ Xuân Thiều sốt ruột đề nghị cấp trên cho được đánh ban ngày. Tuy nhiên thời điểm đó, chiến thuật đánh B-52 của ta chỉ đánh vào ban đêm nên đề nghị này của Thiều không được chấp nhận. Đại tá Vũ Đình Rạng – người từng bắn trọng thương B-52 đêm 20-11-1971, Đại đội phó bay đêm của Thiều kể:

“Vũ Xuân Thiều là người điềm đạm và quyết đoán. Tôi nhớ có lần sau khi giảng bình bay về cậu ấy còn nói, nếu gặp B-52 mà bắn không rơi sẽ liều mình làm quả tên lửa thứ 3, nhất định tiêu diệt nó”.

Ngày 18/12/1972, ngay khi Nixon chính thức ra lệnh mở cuộc ném bom chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và các vùng lân cận, lực lượng phòng không ba thứ quân, đặc biệt là bộ đội tên lửa đã bắn rơi nhiều máy bay các loại của Mỹ. Không quân đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi một số máy bay chiến thuật, nhưng qua mấy ngày vẫn chưa bắn rơi được máy bay B-52.

Các phi công giỏi nhất về nghiệp vụ, có bản lĩnh, ý chí quyết tâm cao nhất của Không quân nhân dân Việt Nam được điều về Đại đội MiG đánh đêm của Trung đoàn 921, Sư đoàn 371. Trong những ngày chưa hạ gục được B-52, các anh đều cảm thấy áp lực, cho rằng mình chưa làm tròn trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân. Ai nấy ra sức tập luyện, đúc rút kinh nghiệm tìm ra cách đánh mới, hạ quyết tâm bắn rơi bằng được máy bay B-52 của Mỹ.

Quyết tâm ấy đã có kết quả. Đêm ngày 27/12/1972, phi công Phạm Tuân lập chiến công đầu tiên cho Không quân khi bắn rơi 1 máy bay B-52. Thành tích ấy góp phần động viên, cố vũ niềm tin cho các phi công MiG-21 có thể hạ gục “siêu pháo đài bay B-52 bất khả xâm phạm” của đế quốc Mỹ.

Ngày 28/12/1972, theo tin tình báo chiến lược, từ 21 giờ 30 đến 23 giờ 30 đêm 28 tháng 12, địch sẽ tập trung máy bay B-52 đánh phá Thủ đô Hà Nội.

21 giờ, Đại đội rađa 26 đóng ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa và Đại đội rađa 22 đóng ở Mộc Châu báo đã phát hiện các tốp máy bay B-52 đang bay vào. 21 giờ 41 phút, Phó Tư lệnh Không quân Trần Mạnh lệnh cho phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích từ sân bay dã chiến Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Chiếc MiG-21 của Thiều lao vút lên bầu trời đêm tiến thẳng về Hà Nội.

MiG-21 xuất kích đánh chặn B-52
MiG-21 xuất kích đánh chặn B-52. (Ảnh Tư liệu)

Lúc 21 giờ 52 phút, Sở chỉ huy lệnh cho Vũ Xuân Thiều vòng phải, bay hướng 360 độ để chặn đánh B-52. Nhưng do nhiễu quá nặng, Vũ Xuân Thiều vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Lúc này, đồng chí Trần Xuân Mão đảm nhiệm dẫn đường trên hiện sóng ra đa phát hiện chấm trắng đục giữa nền nhiễu và khẳng định đó là B-52. Bằng kinh nghiệm của mình, đồng chí nhận định chúng đổi hướng, bay ngược lên Sơn La rồi mới vòng xuống đánh phá Hà Nội. Sở chỉ huy lập tức lệnh cho Thiều vòng phải, bay hướng 90 độ, qua Sầm Nưa, lên hướng Bắc đuổi theo tốp B-52 đang bay về hướng Nà Sản, Sơn La.

Lúc 21 giờ 58 phút, khi đến Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu bên trái, phía trước một dãy đèn nhấp nháy đang bay vào, đó là đèn tín hiệu của máy bay B-52. Thiều báo cáo: “046 phát hiện quạ đen bên trái 40 độ 10 km” và ép độ nghiêng lao vào bám sát địch. Trong bầu trời tối đen, ra đa lại bị nhiễu rất nặng nên rất khó phán đoán cự ly. Bằng mắt thường, anh dõi theo đèn tín hiệu của máy bay B-52. Lúc này tại Sở chỉ huy đã nhận được báo cáo của Vũ Xuân Thiều, ai nấy đều cảm thấy phấn khởi. Phó Tư lệnh Không quân Trần Mạnh nhắc: “046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch”.

Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: “Nghe rõ!”. Một phút sau, Sở chỉ huy hỏi: “046 công tác tốt không?” nhưng không nghe trả lời. Điện đàm liên tục tiếng gọi: “Sông Mã gọi 046” nhưng đều không phản hồi. Tất cả cán bộ, chiến sỹ tại Sở chỉ huy tim như ngừng đập.

Phó Tư lệnh Trần Mạnh và Trần Hanh đều hiểu có điều gì đó không bình thường nhưng rất phi thường đã xảy ra. Hai người chỉ huy lóe lên suy nghĩ có thể do cự ly quá gần do ban đêm khó ước lượng bằng mắt, sau khi phóng hai tên lửa trúng mục tiêu nhưng chưa thể triệt hạ hoàn toàn mục tiêu, máy bay của Thiều đã lao vào chiếc B-52 và anh dũng hy sinh.

Những bằng chứng sắt đá

Tuy nhiên, sự hy sinh của phi công Vũ Xuân Thiều vẫn là một ẩn số. Có ý kiến cho rằng máy bay của Vũ Xuân Thiều bị đối phương bắn hạ. Ý kiến của đồng chí Trần Mạnh và Trần Hanh mới chỉ là nhận định. Theo tài liệu, phía Mỹ không ghi nhận chiếc B-52 này bị bắn hạ. Mặt khác, họ còn cho rằng chiếc MiG-21 của Vũ Xuân Thiều đã bị bắn rơi trước khi kịp tiếp cận với B-52, sau khi hứng chịu 3 tên lửa AIM-7 Sparrow từ 2 chiếc F-4D của Không quân Mỹ. Một trong những chiếc F-4 được điều khiển bởi Thiếu tá Harry McKee và Đại úy John Dubler.

Ngay sau đó mọi việc đã được sáng tỏ, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (người được cử lên địa điểm nơi Thiều bắn rơi B-52) đã kể lại:

“… Ngay tối 28-12-1972, lúc khoảng 12 giờ đêm, tôi nhận được điện từ sở chỉ huy giao dẫn đầu đoàn cán bộ lên địa điểm nơi phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52 tại Sơn La để xác minh tình hình. Khi đến nơi, tôi có gặp các chiến sĩ bộ binh đóng quân tại khu vực, mọi người đều nói tối hôm qua thấy hai bó lửa rất to bùng cháy và rơi xuống. Đứng trên đồi chúng tôi nhìn thấy xác B-52 cháy sém một phía, phía bên kia quả đồi là xác chiếc MiG màu ánh bạc. Chúng tôi còn nhặt được hai mảnh xác máy bay MiG và B-52 găm vào nhau, đó là dấu hiệu cho thấy máy bay của Thiều đã lao vào chiếc B-52. Tôi lập tức điện về báo cáo tình hình cho Bộ tổng tham mưu và Quân chủng Phòng không – không quân: “Chúng tôi đã đến hiện trường, sờ được xác máy bay B-52, chính xác Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi ở cự ly gần và lao vào chiếc B-52, tôi sẽ mang hai mảnh xác máy bay găm vào nhau về báo cáo”. Với kinh nghiệm nhiều năm chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, tôi linh cảm rằng trong giây phút cuối cùng Vũ Xuân Thiều đã quyết tử để quyết tâm tiêu diệt B-52″. 

Tháng 10/2002, nhân một chuyến sang Mỹ công tác, một số chuyên viên Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam đến thăm Viện Bảo tàng Không quân Mỹ tại Oa-sinh-tơn và được tìm hiểu cuốn sách “Không chiến trên bầu trời Bắc Việt”. Trong tài liệu có ghi kỹ lưỡng về trận không chiến đêm 28/12/1972 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam theo lời kể của các phi công Mỹ tham gia trận chiến.

Tác giả Istvan Toperczer ghi lại lời kể một phi công Mỹ lái máy bay làm nhiệm vụ vệ tinh cho chiếc B-52D bị máy bay của không quân của ta tấn công đêm hôm đó:

“Chiếc máy bay MiG-21 của không quân Bắc Việt lao vút lên bầu trời. Khi phát hiện ra mục tiêu B-52 và các máy bay tiêm kích của Mỹ bảo vệ, chiếc MiG-21 đã nhanh chóng vượt qua hàng rào bảo vệ và tiếp cận mục tiêu. Quả tên lửa thứ nhất phóng đi, rồi quả thứ hai, chiếc B-52 bị thương nhẹ chỉ tròng trành trong vài giây rồi vẫn gắng gượng lao đến vị trí thả bom. Khi khói vàng vừa nhả ra thì chớp nhoáng chiếc MiG-21 lao như một mũi tên vào chiếc B-52 Mỹ. Cả hai khối sắt thép cùng nổ tung trên bầu trời…”.

Máy bay B-52 bị cháy trên bầu trời miền Bắc
Máy bay B-52 bị cháy trên bầu trời miền Bắc. (Ảnh Tư liệu)

Có thể lợi dụng những điểm yếu trong chiến thuật sử dụng B-52 của không quân chiến lược Mỹ: Khi bay trong đội hình ban đêm, để giữ liên lạc với lực lượng tiêm kích yểm hộ khỏi bị đâm nhau và bắn nhầm, máy bay B-52 luôn phát tín hiệu vô tuyến và bật đèn để làm tiêu giữ cự ly giãn cách. Điều này vô tình khiến việc phát hiện quân địch áp sát B52 khá bị động và chỉ có thể dựa vào ra-đa.

Từ nội dung trong tài liệu này và lời kể của Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, nhận định của đồng chí Trần Mạnh và Trần Hanh về sự hy sinh dũng cảm của phi công Vũ Xuân Thiều đã được khẳng định.

Khi bám sát B-52 ở cự ly quá gần để phóng tên lửa, đối mặt với cái sống – cái chết, thời gian là quá ngắn để chờ đợi kết quả từ 2 quả tên lửa. Ngay khi không thể triệt hạ hoàn toàn mục tiêu, Phi công Vũ Xuân Thiều cùng chiếc MiG-21 biến thành “quả tên lửa thứ ba” lao thẳng vào “Pháo đài bay” ngay tức khắc.

Với chiến công này, ngày 20/12/1994, Thượng úy, Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Video dựng lại khoảnh khắc tiêu diệt máy bay B-52 của anh hùng Vũ Xuân Thiều

Chàng thanh niên hà nội và lời yêu chưa trọn vẹn

“Đấy là một con người trí thức, dáng dấp rất “trai Hà Nội”, sống hòa đồng, hiền hậu, thông minh. Một con người sống bằng nội tâm. Tư cách thì vừa như thanh niên thành phố lại như thanh niên huyện” (Hà Quang Hưng, đồng đội cùng đoàn bay MiG-21 khóa 3).

Là con trai thứ 7 trong gia đình có 10 người con, Thiều là người ít nói nhưng quyết đoán và mạnh mẽ hơn cả. Đại tá Vũ Xuân Thăng, anh hai của Thiều kể:

“Năm Thiều lên hai tuổi bị một mụn nhọt rất to ở sau lưng, dân gian vẫn gọi là “hậu bối” – vị trí rất nguy hiểm -hành hạ. Thiều sốt liên tục mấy ngày liền, tôi phải bế em ấp vào người cho khỏi đau nhưng tuyệt nhiên em không kêu khóc”.

Đại tá Vũ Xuân Thăng tham quan nơi trưng bày lá thư thời chiến và bức ảnh của em trai mình- Liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Vũ Xuân Thiều
Đại tá Vũ Xuân Thăng tham quan nơi trưng bày lá thư thời chiến và bức ảnh của em trai mình – Liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Vũ Xuân Thiều.

Sau này, cô em gái Vũ Thị Kim Bình, người có nhiều thời gian gắn bó với anh trai nhất cho biết:

“Trong trí nhớ của tôi, anh Thiều chỉ thích chơi đá bóng và mô hình máy bay. Tôi đoán anh mơ ước trở thành phi công từ những ngày đó. Chẳng thế mà năm lớp 10, khi khám tuyển, anh bị trượt ở vòng quay thử. Sau lần ấy, sáng sáng anh đều lên sân thượng tập thể dục. Anh nói với tôi, anh phải tập quay đầu để không bị chóng mặt trong lần khám tuyển sau. Anh nhất định thực hiện ước mơ của mình”.

Trong những ngày diễn ra chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ông Vũ Xuân Thăng đang công tác tại Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông nhớ lại:

“Vì tham gia thành phần trực sở chỉ huy nên đêm 28-12-1972, tôi cũng biết có một chiếc B-52 bị không quân ta bắn hạ, và phi công của ta cũng anh dũng hy sinh. Đến sáng hôm sau thì tôi là người đầu tiên trong gia đình nhận tin em trai mình đã hy sinh trong trận đánh với B-52 đêm hôm trước”.

Lá thư ngày 21-12-1972, Vũ Xuân Thiều đang viết dở thì có lệnh triển khai chiến đấu. Thư có đoạn:

“Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội, con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân…”.

Lá thư cuối cùng dang dở ấy đến tay người nhận khi Vũ Xuân Thiều đã xếp lại đôi cánh bay. Ông Thăng tâm sự rằng:

“Bố mẹ tôi chắc cũng biết được con trai mình đang thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm. Họ hiểu sự khốc liệt của chiến tranh. Nên mỗi lần nhận được thư em, bố mẹ tôi đều không nói gì…”.

Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều hy sinh khi anh vừa tròn 27 tuổi. Bao nhiêu năm đã qua, căn gác xưa ở số 21 phố Đặng Dung, Hà Nội của gia đình anh vẫn còn khá nguyên vẹn như thuở anh còn đi về. Tất cả di vật anh để lại đều được người thân nâng niu gìn giữ. Đại tá Vũ Xuân Thăng, anh trai thứ hai của Vũ Xuân Thiều, người đang chăm nom việc hương khói cho anh giới thiệu về những kỷ vật ấy. Ông đặc biệt kể rất kỹ về một con đại bàng bằng đá cẩm thạch được trang trọng cất trong hộp kính cùng với mô hình biên đội 2 chiếc MiG-21 và mảnh xác máy bay B-52 mà Thiều bắn rơi. Ông nói:

“Đây là ba thứ đại diện cho cuộc đời của chú Thiều: Máy bay MiG-21 là sự nghiệp, cuộc sống bị cướp đi bởi máy bay B-52 và đại bàng đá là món quà của tình yêu”.

Vậy ra, con đại bàng bằng đá cẩm thạch có thể phát sáng vào ban đêm ấy là món quà mà cô bạn gái của Vũ Xuân Thiều khi du học ở Nga (Liên Xô trước đây) gửi về tặng anh. Một món quà rất ý nghĩa: Vũ Xuân Thiều là phi công lái máy bay tiêm kích ban đêm, giống như đại bàng luôn sải cánh rộng và vững chắc.

Cho đến giờ, người thân và bạn bè của Vũ Xuân Thiều vẫn còn kể về tình yêu đó. Nguyễn Xuân Phong, phi công cùng đoàn bay năm đầu tiên (1969) trên loại máy bay Iak – 18a với Vũ Xuân Thiều, kể:

“Thiều tính tình thẳng thắn, ít nói nhưng nói rất chắc chắn. Thiều rất hay nhận được thư với phong bì màu xanh, trên đó ghi dòng chữ: Em gửi cho anh/Chiếc phong bì màu xanh/Màu ước mơ hy vọng… Không biết có phải điềm gở hay không, trong những ngày của “12 ngày đêm”, Thiều lại gửi tôi một chiếc hòm, gồm có thư từ và ảnh nhờ mang về Hà Nội chuyển cho gia đình”.

Không cắt nghĩa được chuyện đó, nhưng chắc chắn giữa Thiều và bạn gái đã có một quy ước chỉ viết và gửi thư cho nhau trên chất liệu giấy màu xanh: Màu của hòa bình và hy vọng. Bà Nguyễn Thục Phương, chị dâu của Vũ Xuân Thiều nhớ rất rõ:

“Cùng đơn vị với chú Thiều có anh Tuân-thợ máy, nhà cũng ở phố Đặng Dung. Mỗi lần anh Tuân về tranh thủ, chú Thiều đều nhờ mua giúp phong bì và giấy pơ-luya màu xanh. Chú ấy tế nhị và lãng mạn lắm. Không nói nhiều nhưng hành động thì rất cụ thể”.

Chợt nhắc đến người con gái đó, ông Thăng ngậm ngùi:

“Thật tiếc là chú Thiều hy sinh khi mối tình với cô ấy dang dở. Dù đến nay, cô ấy cũng đã yên bề gia thất nhưng vẫn đi lại với gia đình tôi như con cái trong nhà. Mẹ tôi khi còn sống vẫn bảo, mẹ mất Thiều nhưng lại có thêm hai người con. Âu cũng là điều an ủi”.

Chuyện tình yêu của Vũ Xuân Thiều khiến người ta biết và nhớ đến mức, dù anh mất đã khá lâu mà hằng năm đến ngày giỗ của anh hay có dịp đến thăm nhà, bạn bè thắp hương và viếng mộ anh đều mua hoa màu vàng. Bởi một lẽ rất đơn giản, Thiều suốt đời yêu hoa vàng vì nó gắn liền với người con gái anh yêu thương.

Là phi công tiêm kích thứ 2 tiêu diệt được B-52 của không quân Mỹ trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược B-52, Vũ Xuân Thiều đã góp phần xứng đáng vào Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lịch sử. 

Ông đã cống hiến cả tuổi trẻ và cuộc đời mình cho đất nước, hãy để đất nước ghi danh ông tới cõi vĩnh hằng.

==============================

Bài viết được dịch thuật, chọn lọc và tổng hợp bởi Lê Tiến Nguyên từ CAND, TRIAN, SOHA, Wikipedia.