Nhân vật lịch sử

Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập: Người nước ngoài duy nhất được phong tặng AHLLVTND

Kostas Saratidis, tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Lập, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, chứng nhân lịch sử, một người lính da trắng của Bác Hồ.
416

Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập: Một người lính da trắng của Bác Hồ

Bà con trong cộng đồng người Việt ở Thủ đô Athens gọi một người Hy Lạp với cái tên thân mật là “bác Lập”. Bà con cho biết hàng chục năm qua, ông đã tận tụy đóng góp công sức vào việc xây dựng, phát triển cộng đồng người Việt tại Hy Lạp. Ông là Kostas Saratidis, tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Lập, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, chứng nhân lịch sử, một người lính da trắng của Bác Hồ.

Anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis - Nguyễn Văn Lập
Anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập.

Tháng 2/1946, chàng thanh niên Hy Lạp Kostas Sarantidis có mặt trong đội quân viễn chinh của thực dân Pháp đổ bộ lên Sài Gòn. Anh nghe người Pháp nói lính lê dương Pháp sang Đông Dương để  “giải phóng” các xứ ở đây, chống phát xít Nhật. Nhưng sau đó anh nhanh chóng nhận ra tất cả những gì người Pháp nói chỉ là chém gió, những gì họ làm đó là tàn sát và xâm lược.

Sau này, ông nhớ lại:

Tuy mới 18 tuổi đời, chưa hiểu nhiều về cuộc sống và chính trị, nhưng với truyền thống yêu tự do của người dân Hy Lạp đã từng trải qua 400 năm dưới ách thống trị của quân Thổ Nhĩ Kỳ, sau nhiều đêm thức trắng, tôi quyết định đi theo Việt Minh, dù cũng chưa hiểu rõ Việt Minh là thế nào…”.

Thời gian đầu chiến sĩ “mắt xanh mũi lõ” Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm công tác địch vận tại Quảng Nam – Đà Nẵng. Đến cuối năm 1946, chiến sĩ Lập đã lôi kéo được tới 40 lính lê dương khác gia nhập đội quân cách mạng. Sau đó Lập được phiên vào biên chế Tiểu đội 3, Đại đội 39 do ông Đàm Quang Trung thời đó làm Đại đội trưởng. Chiến sĩ Lập đã chiến đấu dũng cảm như một người lính Cụ Hồ thực thụ trong suốt gần “9 năm làm một Điện Biên”.

Hòa bình lập lại tại miền Bắc, năm 1956 ông xuất ngũ rồi đi làm phiên dịch tiếng Đức ở nhà máy in Tiến Bộ. Thỉnh thoảng ông Lập còn được hãng phim truyện mời đi đóng phim. Năm 1958, ông kết hôn với một cô gái Hà Nội, người được ông mô tả là “cực xinh“, sinh được bốn người con, một trai ba gái, tất cả đều lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Bạch Nga và Nguyễn Thị Tự Do.

Hà Nội thời chiến tranh và bao cấp đã tôi luyện chàng trai người Hy Lạp trở thành một người Việt thực thụ, một người chồng người cha tận tụy cần mẫn với gia đình. Năm 1965, ông cùng vợ con trở về Hy Lạp qua con đường Sứ quán Hy Lạp tại Mátxcơva.

Cuộc sống bên Hy Lạp của ông cũng vất vả không kém, ông bảo : “Tôi đã mang vợ nước ngoài về thì không bao giờ bắt vợ đi làm. Tôi quyết tâm dù phải vất vả 18 thậm chí 24 tiếng mỗi ngày cũng phải làm để nuôi vợ con. Tôi suốt đời hy sinh cho… vợ con”. Về Hy Lạp ông làm nghề lái xe tải hạng nặng nhờ có bằng lái xe ở VN. Từ khi trở về, Nguyễn Văn Lập thường xuyên theo dõi tình hình chiến sự VN qua đài Trung Quốc phát bằng tiếng Pháp.

Thời điểm giải phóng miền Nam bác có vui mừng ?”  –  ông đáp “Mừng là thế nào, xúc động đến rụng rời chân tay đi ấy chứ

Viết sẵn di chúc trước khi sang Việt Nam

Cuối tháng 8/2013, Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập đáp chuyến bay từ Thủ đô Athens (Hy Lạp) sang Hà Nội dự lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân do Nhà nước Việt Nam trao tặng. Sang Việt Nam, Nguyễn Văn Lập như được về lại nhà mình, ông thấy khỏe ra nhiều. Ông cười bảo, lần này mới là lần thứ tám, ông sẽ tiếp tục đến Việt Nam và phấn đấu có tới 10 lần trở lại mảnh đất này. Cô con gái Bạch Tuyết đi cùng ba tuy bập bẹ chút ít tiếng Việt cũng kịp “tiết lộ” : “Gia đình cháu và bác sĩ không ai đồng ý để ba sang đợt này, nhưng ba cháu quyết tâm lắm, ba đã viết sẵn di chúc và bảo: Nếu có chết thì cũng nằm lại quê hương thứ hai!”. 

Nói tới 8 chuyến đi trở lại Việt Nam, tôi tò mò hỏi rằng, với mức lương hưu ít ỏi của mình, ông lấy đâu ra tiền để mua vé máy bay? Ông cười khà khà rồi nháy mắt kể: Mỗi sáng, vợ ông phát cho ông 3 euro để đi uống cà phê, ông đã “trốn” không uống mà để dành những đồng tiền ấy để mua vé.

Ông còn kể rằng lần nào trước khi sang Việt Nam, ông cũng viết di chúc để lại, dặn dò vợ con là nếu chẳng may có mệnh hệ gì thì dứt khoát không đưa ông về Hy Lạp mà hãy chôn cất ông ở Việt Nam, vì với ông, Việt Nam cũng chính là Tổ quốc, là quê hương như đất nước Hy Lạp mà ông đang sinh sống.

Có một chi tiết ấn tượng về ông, đó là khi được giới thiệu lên phát biểu, Kostas Sarantidis luôn kính cẩn cúi đầu chào trước tượng Bác, rồi bước đến bục phát biểu. “Tôi thích được gọi là Nguyễn Văn Lập hơn là Kostas Sarantidis. Bởi cái tên này gắn với những kỷ niệm không thể nào quên với nước Việt Nam của cụ Hồ. Các bạn Việt Nam đã giúp tôi hiểu thế nào là độc lập tự do”

Mỗi lần về Việt Nam, những đồng đội cũ chào đón ông không chỉ bằng tình đồng chí mà còn bằng tình anh em khiến ông thấy vô cùng ấm áp. Ông lại cùng các đồng đội cũ đi thăm và tặng quà, hỗ trợ tiền cho người dân Quảng Ngãi bị lụt bão, giúp các bệnh nhi ở Đà Nẵng, Hà Nội mổ tim từ tiền bán sách Tại sao tôi về với Việt Minh do ông viết. Để giúp đỡ các nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam, năm 2009, ông đã vận động thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam – Hy Lạp do ông làm chủ tịch để quyên góp gây quỹ.

Hiện nay gia đình ông có 8 cháu nội ngoại, sinh sống ở thủ đô Athens và các thành phố khác. Yêu và gắn bó với Việt Nam, Kostas Lập không chỉ đặt tên cho con mà đến cháu cũng lấy tên Việt (Nguyễn Phục Sinh, Nguyễn Hồ Minh…), thậm chí hòm thư báo trước cổng nhà trên đường phố Rodos ở thành phố Athens ông cũng ghi cả 2 cái tên Việt Nam và Hy Lạp: Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập.

Một lần khi PV hỏi ông về vấn đề biển đảo (Trung Quốc). Ông nói:  “Tôi bực mình lắm. Tôi không ngờ. Anh em mất ý nghĩa anh em, tình đống chí mất ý nghĩa tình đồng chí. Tôi ở xa, vẫn hy vọng TQ là 1 nước cộng sản, VN thì thế, nước XHCN như thế. Thực ra tôi biết từ lâu rồi, những cái hành động của TQ, tôi ko có gì lạ. Từ Bác Hồ năm 46, rồi hiệp định Geneva, rồi bài học vừa rồi mấy năm về trước, rồi Campuchia, vv… Đến cái bước này là tôi ko ngờ …

Phóng sự về anh hùng LLVT nhân dân Kostas Saratidis – Nguyễn Văn Lập.

Thành Nguyễn

Nhân vật lịch sử

Anh hùng Nguyễn Văn Đừng và “tiểu đội gang thép”

Trong trận Ấp Bắc lịch sử, tiểu đội "tiểu đội gang thép" của Nguyễn Văn Đừng nhận nhiệm vụ hướng phòng ngự. Sau khi đã vận động ra tiêu diệt một cánh quân địch đổ bộ, trở về trận địa, đồng chí động viên anh em: "Dù ác liệt thế nào, vẫn phải giữ vững trận địa, sống chết cùng địch."
115

Anh hùng Nguyễn Văn Đừng – “Chiến sĩ gang thép”

Nguyễn Văn Đừng, dân tộc Kinh, sinh năm 1938, tại ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. Nguyễn Văn Đừng nhập ngũ ngày 5 tháng 9 năm 1959. Khi hy sinh ông là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261A (tiểu đoàn ghi rông). Nguyễn Văn Đừng đã tham dự hơn 30 trận chiến đấu, ông luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, có tác phong chiến đấu rất mưu trí, linh hoạt, khi tiến công thì mãnh liệt chớp nhoáng, khi bám trụ thì gan góc kiên cường.

Nguyễn Văn Đừng luôn chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy. Ông thường được giao những nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt. Trong sinh hoạt Nguyễn Văn Đừng luôn được đồng đội yêu mến. 

Trong trận đánh vận động ở Thủ Thừa, 1 tiểu đoàn địch lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu và trinh sát của ta đã nổ súng đánh địch, nhưng chưa có lệnh của cấp trên, Nguyễn Văn Đừng vẫn kiên trì nằm phục, mặc cho địch vào cách 15 mét rồi 10 mét. Khi có lệnh, Nguyễn Văn Đừng mới bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân địch.

Trận đánh diễn biến gay go, bọn địch triển khai chiếm địa hình có lợi chống trả rất quyết liệt. Được lệnh, Nguyễn Văn Đừng đã dũng cảm vác trung liên vượt qua bãi trống dưới làn đạn địch, thọc vào giữa đội hình của chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho đợn vị xung phong, đánh bại tiểu đoàn “Cọp đen” nổi tiếng.

Trong trận đánh địch ở Gò Công, đơn vị bố trí phục kích diệt một toán quân địch. Tình huống diễn biến không như dự kiến. Quân địch hành quân hướng khác, chỉ chạm phải khúc đuôi của trận địa ta. Hai bên nổ súng chiến đấu quyết liệt. Đại bộ phận quân ta vẫn giữ được bí mật trận địa.

Đại đội trưởng lệnh cho tiểu đội Nguyễn Văn Đừng bí mật vận động, đánh tạt sườn quân địch. Nguyễn Văn Đừng vác trung liên dẫn tiểu đội cơ động, bất ngờ đột kích mãnh liệt vào bên sườn trái, hất quân địch vào thế trận của ta. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ đội hình địch rối loạn thương vong rất lớn. Kết thúc trận đánh, ta diệt 145 địch, thu nhiều vũ khí các loại.

Tiểu Sử Anh Hùng Nguyễn Văn Đừng Và Biệt Danh Chiến Sỹ Gang Thép

Tinh thần quyết tử của “tiểu đội gang thép”

Ngày 2-1-1963, Sư đoàn 7 và Chiến đoàn Bảo an thuộc Tiểu khu Định Tường của địch mở cuộc càn quét xuống xã Tân Phú thuộc vùng giải phóng huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang).

Địa điểm địch tập trung đánh phá là Ấp Bắc nhằm bao vây tiêu diệt trung đội địa phương của ta mà chúng vừa phát hiện. Trước sức mạnh của địch, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 261, Quân khu 8, nay là Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 2, Sư đoàn 330, Quân khu 9) đã tổ chức một Tiểu đội Quyết tử làm nhiệm vụ xung phong đi đầu, chấp nhận hy sinh trước nếu gặp tình huống cam go. Các chiến sĩ của Tiểu đội Quyết tử được lựa chọn rất kỹ lưỡng, nhất là khả năng bắn súng.

Tiểu đội Quyết Tử nằm trong đội hình của Trung đội 2, Đại đội 1, do Nguyễn Văn Đừng làm Tiểu đội trưởng. Khi địch tấn công vào Ấp Bắc, tiểu đội được bố trí ở ngay cửa chính để đánh xe tăng. Trưa 2-1, xe tăng của địch 5 lần tiến vào địa hình của ta, nhưng đều bị đánh bật ra.

Không chịu bỏ cuộc, dựa vào sự yểm trợ của pháo binh, phi cơ, xe M.113, địch hung hãn tiến vào địa hình lần nữa, quyết tâm đánh chiếm trận địa của ta. Đúng lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt thì khẩu trung liên của tiểu đội bị kẹt đạn. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đừng lệnh cho một chiến sĩ lùi về phía sau để sửa chữa.  Đến chiều tối, cả tiểu đội chỉ còn lại đúng 3 người.

Lúc này, xe thiết giáp của địch vẫn đang lừng lững tiến gần sát tới công sự. Trước tình thế đó, hỏa lực của ta liên tục nhả đạn để kiềm chế nhưng vẫn không ngăn nổi. Nếu để địch tràn lên công sự thì nhiều chiến sĩ phía sau sẽ phải hy sinh mà trận địa cũng không giữ được. Đến chiều tối, cả tiểu đội chỉ còn lại 3 người. Khi xe địch chỉ còn cách công sự vài mét, Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đừng bật dậy, tay cầm thủ pháo tự chế lao về phía địch, ném quả thủ pháo vào xe thiết giáp của địch. Ngay lập tức, một tiếng nổ lớn vang lên, chiếc xe bốc cháy ngùn ngụt.

Trước tình huống bất ngờ, chiếc xe đi đầu bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc đi sau vội lủi lại, vừa bắn xối xả vào chỗ Nguyễn Văn Đừng, vừa tháo lui. Tiểu đội phó Hùng ngay lập tức bật dậy nhắm vào xích xe nhả đạn, cùng lúc đó, chiến sĩ Đỗ Văn Trạch cũng lăn xả vào tiêu diệt địch, bắn hạ thêm một xe và làm đứt xích một xe nữa. Tuy đã bị thương nặng, Nguyễn Văn Đừng vẫn gọi 2 chiến sĩ lại, dặn thêm một lần nữa: “Quyết tử giữ vững trận địa“. Nguyễn Văn Đừng đã anh dũng hy sinh ngay trên chiến hào, bên xác chiếc M.113 còn đang bốc cháy.

Đến cuối cùng, cả tiểu đội trưởng, tiểu đội phó và chiến sĩ Đỗ Văn Trạch đều hy sinh, song Tiểu đội Quyết tử đã để lại những giá trị lớn lao. Trong chiến tháng Ấp Bắc, tiểu đội Nguyễn Văn Đừng đã diệt 3 xe M.113, bắn hỏng 1 chiếc khác, cùng đơn vị bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, bắn hư hại 9 chiếc, diệt 470 tên địch. Sau chiến thắng Ấp Bắc, nhân dân Ấp Bắc đã ưu ái gọi 3 liệt sĩ là “3 chiến sĩ gang thép”, Tiểu đội 1 là “Tiểu đội gang thép”.

Tiểu đội gang thép với chiến thắng Ấp Bắc

Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

————————-

Bài viết được chọn lọc và tổng hợp từ trianlietsi, tuoitre, baoquankhu4, baotintuc, qdnd bởi Lê Tiến Nguyên